
Ninh Bình hướng ra biển, mở không gian phát triển mới. (Ảnh: Internet)
Với gần 90km bờ biển cùng hệ thống cửa sông, bãi triều, rừng ngập mặn và quỹ đất thuận lợi phát triển công nghiệp, logistics, du lịch, thủy sản, Ninh Bình đang từng bước định hình một không gian kinh tế biển đa ngành. Cùng với việc quy hoạch lại không gian phát triển, tỉnh tập trung đầu tư hạ tầng, thu hút các dự án quy mô lớn, hướng tới đưa kinh tế biển trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030.
Định hình cực tăng trưởng mới từ lợi thế biển
Một trong những thay đổi đáng chú ý của Ninh Bình sau khi mở rộng không gian phát triển là lợi thế về biển được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược tăng trưởng. Với đường bờ biển dài gần 90km, 16 xã ven biển và hệ thống cửa sông, bãi triều, rừng ngập mặn, khu vực ven biển đang có điều kiện hình thành một không gian kinh tế mới, bổ trợ cho các vùng động lực truyền thống của tỉnh.
Ngày 12/2/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU về “Chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết xác định vùng ven biển trở thành cực tăng trưởng khu vực phía Đông Nam của tỉnh, có sự liên kết chặt chẽ với các vùng động lực trong tỉnh và khu vực.
Theo định hướng này, giai đoạn 2025-2030, kinh tế biển và ven biển phấn đấu tăng trưởng bình quân trên 11%/năm; đến năm 2030 đóng góp trên 20% GRDP toàn tỉnh. Xa hơn, đến năm 2045, vùng kinh tế ven biển Ninh Bình được định hướng trở thành một trong những trung tâm kinh tế, đô thị và logistics biển trọng điểm của Bắc Bộ và cả nước.
Điểm đáng chú ý là tỉnh không lựa chọn cách phát triển kinh tế biển theo một ngành đơn lẻ mà tổ chức không gian theo hướng đa ngành. Công nghiệp, cảng biển, logistics được xác định là những lĩnh vực tạo động lực; đô thị, dịch vụ tạo không gian phát triển; du lịch mở rộng chuỗi sản phẩm; trong khi nông nghiệp và thủy sản được tổ chức lại theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ và tăng giá trị chế biến.
Trong cấu trúc đó, Khu kinh tế Ninh Cơ giữ vai trò quan trọng. Theo Kế hoạch số 170/KH-UBND ngày 20/5/2026 của UBND tỉnh, Ninh Bình định hướng xây dựng, phát triển và mở rộng Khu kinh tế Ninh Cơ trở thành khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành, hiện đại, ưu tiên công nghiệp, logistics, dịch vụ cảng biển và đô thị ven biển.
Cùng với Khu kinh tế Ninh Cơ, các khu công nghiệp ven biển đang được hình thành và mở rộng. KCN Dệt may Rạng Đông, KCN Hải Long, KCN Minh Châu được đầu tư xây dựng; các KCN Lạc Xuân, Thịnh Tân, Kim Sơn, Thanh Hương đang hoàn thiện quy hoạch, hồ sơ dự án và các thủ tục lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng.
Việc bố trí các khu sản xuất trong mối liên kết với cảng biển và logistics được kỳ vọng tạo thành chuỗi sản xuất – hậu cần có khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ phát huy hiệu quả khi hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, cảng biển và các trung tâm logistics được kết nối đồng bộ.
Định hướng thu hút đầu tư của tỉnh vì vậy cũng được đặt trong yêu cầu kiểm soát chất lượng dự án. Các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, cơ khí, đóng tàu, năng lượng tái tạo, chế biến nông sản, thủy sản được ưu tiên, đồng thời phải tính toán ngay từ đầu nhu cầu về đất đai, điện, nước và khả năng xử lý chất thải.
Một số dự án công nghiệp quy mô lớn đang được triển khai cho thấy dư địa phát triển của không gian này rất lớn. Nhà máy thép xanh số 1 đã hoàn thành khoảng 70% khối lượng san nền; dự án Nhà máy thép xanh Xuân Thiện đã hoàn thành san nền và đang thực hiện các bước thẩm định thiết kế. Dự án Nhà máy sản xuất ô tô tải chạy điện và máy công trình chạy điện cũng đang được rà soát, hoàn thiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư.
Cùng với công nghiệp, lợi thế biển đang được chuyển hóa thành giá trị trong lĩnh vực thủy sản, nông nghiệp và du lịch. Dự án xây dựng hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản Giao Thủy có quy mô khoảng 300ha tại xã Giao Hòa và Giao Phúc, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 400 tỷ đồng, hướng tới hình thành vùng sản xuất giống, nuôi ngao, tôm tập trung, đồng thời bổ sung hạ tầng và tăng khả năng kiểm soát môi trường vùng nuôi.
Trong lĩnh vực du lịch, không gian phát triển đang được mở rộng từ vùng di sản, sinh thái nội địa ra biển, cửa sông và rừng ngập mặn. Năm 2026, Ninh Bình lần đầu tổ chức Mùa du lịch biển tại Thịnh Long, đồng thời triển khai xây dựng bộ nhận diện thương hiệu và các sản phẩm du lịch cộng đồng ven biển.
Việc hình thành các sản phẩm mới không chỉ nhằm khai thác thêm tài nguyên du lịch mà còn hướng tới tạo sự liên kết giữa các không gian. Du khách có thể kết hợp tham quan di sản, trải nghiệm sinh thái với nghỉ dưỡng biển, qua đó kéo dài thời gian lưu trú và tăng giá trị thu được từ mỗi chuyến đi.
Như vậy, biển đang được Ninh Bình nhìn nhận không đơn thuần là không gian khai thác thủy sản hay phát triển du lịch mà trở thành một cấu phần quan trọng trong tổ chức lại nền kinh tế. Từ công nghiệp, cảng biển, logistics đến nông nghiệp, thủy sản và dịch vụ, các lĩnh vực đang được đặt trong cùng một không gian liên kết để hình thành cực tăng trưởng mới.
Hạ tầng mở đường, thu hút dòng vốn lớn
Nếu quy hoạch xác định hướng đi thì hạ tầng chính là điều kiện để biến lợi thế thành năng lực cạnh tranh. Nhận thức rõ điều này, Ninh Bình đang ưu tiên nguồn lực cho khu vực ven biển, trong đó đầu tư công được xác định là nguồn vốn nền tảng để hoàn thiện những công trình mà doanh nghiệp khó có thể tự đầu tư.
Trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, tỉnh bố trí 9.640 tỷ đồng cho 16 xã ven biển; riêng năm 2026 khoảng 1.483,5 tỷ đồng. Nguồn vốn tập trung cho giao thông, đê điều, thủy lợi và hạ tầng thiết yếu, vừa phục vụ sản xuất, vừa bảo đảm dân sinh và chủ động ứng phó thiên tai.
Đến tháng 7/2026, một số dự án thủy lợi, đê biển đang thi công đã cơ bản đạt từ 99-100% tiến độ. Tỉnh tiếp tục chuẩn bị đầu tư các công trình nâng cấp, củng cố hệ thống đê biển, xử lý những đoạn đê xung yếu. Tuyến đường từ ĐT.490 đến Cồn Xanh cũng đang được lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, bổ sung một tuyến kết nối quan trọng cho khu vực ven biển.
Cách thức bố trí nguồn lực này cho thấy tỉnh đang hướng tới sử dụng đầu tư công như một “vốn mồi”. Thay vì dàn trải nguồn lực cho quá nhiều dự án, những công trình có tính chất kết nối, tạo mặt bằng và bảo đảm an toàn cho khu vực ven biển được ưu tiên, từ đó tạo điều kiện thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách vào sản xuất, logistics, du lịch và dịch vụ.
Khi hạ tầng được khơi thông, các dự án được lựa chọn đúng hướng và những chuỗi giá trị từng bước được hình thành, kinh tế biển sẽ không chỉ mở rộng không gian tăng trưởng cho Ninh Bình (Ảnh Internet)
Tại KCN Dệt may Rạng Đông, tiến độ đầu tư hạ tầng đang được đẩy mạnh. Đến tháng 7/2026, khối lượng xây dựng hạ tầng hoàn thành khoảng 70%, san lấp đạt 90%; các công trình giao thông và điện chiếu sáng đạt khoảng 60%. Môđun nhà máy nước sạch công suất 28.330m³/ngày đêm và dây chuyền xử lý nước thải công suất 5.000m³/ngày đêm đã hoàn thành.
Đáng chú ý, KCN này đã có 7 dự án thứ cấp đăng ký đầu tư, sử dụng khoảng 90ha đất, tương đương 27,6% diện tích đất thương phẩm. Tổng vốn đăng ký của 7 dự án FDI đạt 476,7 triệu USD.
Con số trên cho thấy hạ tầng đang dần chuyển hóa thành khả năng hấp thụ vốn. Khi mặt bằng, giao thông, điện, nước và xử lý nước thải được đầu tư đồng bộ, doanh nghiệp có điều kiện rút ngắn thời gian triển khai dự án, giảm chi phí ban đầu và nhanh chóng đưa cơ sở sản xuất vào hoạt động.
Tại KCN Hải Long, chủ đầu tư đang san lấp mặt bằng và thi công một số tuyến giao thông nội bộ sau khi dự án khởi công tháng 2/2026. KCN Minh Châu giai đoạn I đang xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đã có dự án thứ cấp đăng ký đầu tư. Các KCN Lạc Xuân, Thịnh Tân, Kim Sơn, Thanh Hương tiếp tục hoàn thiện quy hoạch, hồ sơ dự án và thủ tục lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng.
Cùng với hạ tầng KCN, nhiều dự án sản xuất quy mô lớn đang tạo kỳ vọng hình thành các ngành công nghiệp mới tại vùng ven biển. Riêng các dự án thép xanh đã có tổng mức đầu tư dự kiến lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng. Một số dự án khác trong lĩnh vực đóng tàu, cấu kiện bê tông, thiết bị điện gió và công nghiệp hỗ trợ cũng đang được nghiên cứu, triển khai các thủ tục đầu tư.
Tuy nhiên, quy mô vốn lớn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng. Với những dự án sử dụng nhiều đất, điện và nước, việc lựa chọn nhà đầu tư phải gắn với công nghệ, hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng kiểm soát chất thải. Nếu không giải quyết tốt những vấn đề này, lợi thế về quỹ đất và vị trí ven biển có thể trở thành áp lực đối với hạ tầng và môi trường.
Đây cũng là lý do Ninh Bình đặt yêu cầu phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái và thích ứng biến đổi khí hậu. Đối với Khu kinh tế Ninh Cơ, nhu cầu cấp nước được tính toán theo từng giai đoạn, từ khoảng 25.000m³/ngày đêm giai đoạn 2026-2027, tăng lên 120.000m³/ngày đêm giai đoạn 2028-2030 và khoảng 300.000m³/ngày đêm sau năm 2030.
Những tính toán về nước, giao thông, xử lý chất thải, đê biển và môi trường cho thấy bài toán phát triển kinh tế biển của Ninh Bình không chỉ nằm ở việc thu hút được bao nhiêu dự án hay bao nhiêu tỷ USD vốn đầu tư. Quan trọng hơn là tỉnh phải tạo được một hệ sinh thái hạ tầng đủ sức phục vụ sản xuất, đồng thời bảo đảm chất lượng sống và khả năng phát triển lâu dài của cộng đồng dân cư ven biển.
Với gần 90km bờ biển, một không gian kinh tế mới đang mở ra cho Ninh Bình. Từ những dự án hạ tầng đầu tiên, các khu công nghiệp đang hình thành, dòng vốn FDI bắt đầu được thu hút và các sản phẩm du lịch, thủy sản từng bước được tổ chức lại, vùng ven biển đang có những điều kiện cần thiết để trở thành cực tăng trưởng mới.
Mục tiêu đưa kinh tế biển và ven biển đóng góp trên 20% GRDP vào năm 2030 vì thế không chỉ là một chỉ tiêu về quy mô. Đó còn là thước đo khả năng Ninh Bình tổ chức lại không gian phát triển, kết nối được công nghiệp với cảng biển, logistics với sản xuất, du lịch với sinh thái và đầu tư với yêu cầu bảo vệ môi trường.
Khi hạ tầng được khơi thông, các dự án được lựa chọn đúng hướng và những chuỗi giá trị từng bước được hình thành, kinh tế biển sẽ không chỉ mở rộng không gian tăng trưởng cho Ninh Bình, mà còn trở thành một trong những nền tảng quan trọng để tỉnh hiện thực hóa khát vọng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030.
Huy Nguyễn
Nguồn: baophapluat.vn



















