(PLVN) – Đề nghị của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà (tại cuộc gặp đại biểu tiêu biểu của Hiệp hội Văn hóa Áo dài Việt Nam, ngày 26/7) về việc đẩy nhanh xây dựng hồ sơ trình UNESCO ghi danh áo dài Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại mang đến kỳ vọng mới đối với “Áo dài Việt Nam”. Tuy nhiên, để được UNESCO công nhận, hồ sơ áo dài Việt Nam phải kể được câu chuyện về cả một không gian văn hóa sống. Hay nói cách khác, cần xây dựng một hệ sinh thái cho áo dài để minh chứng việc sáng tạo, lưu truyền và gìn giữ của cả cộng đồng.
Di sản sống mang khát vọng vươn tầm thế giới
Trong kho tàng văn hóa Việt Nam, hiếm có hình ảnh nào vừa gần gũi, vừa mang sức biểu đạt mạnh mẽ như tà áo dài. Trải qua thời gian hình thành và phát triển, áo dài không chỉ trở thành trang phục truyền thống mà đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp Việt Nam, gắn với hình ảnh người phụ nữ, với sự thanh lịch, nền nã và những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Từ những ngày lễ trọng đại của đất nước, các nghi lễ truyền thống, lễ cưới, lễ hội, trường học, công sở cho đến các diễn đàn ngoại giao, tà áo dài hiện diện như một “đại sứ văn hóa”. Chính sự hiện diện bền bỉ ấy đã tạo nên sức sống đặc biệt của áo dài, giúp trang phục này không bị đóng khung trong quá khứ mà tiếp tục thích ứng với nhịp sống hiện đại.

Lễ hội Áo dài tại TP Hồ Chí Minh thu hút rất nhiều người dân tham gia. (ảnh: Quang Phương)
Đó cũng là lý do việc xây dựng hồ sơ trình UNESCO ghi danh áo dài Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và công chúng.
Tại cuộc gặp mặt Hiệp hội Văn hóa Áo dài Việt Nam, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh, áo dài không chỉ là trang phục truyền thống mà còn là biểu tượng của bản sắc văn hóa dân tộc, kết tinh vẻ đẹp, tâm hồn, phẩm chất và truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Phó Thủ tướng đề nghị Hiệp hội Văn hóa Áo dài Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Bộ VH,TT&DL và các cơ quan liên quan đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO.
Chỉ đạo này cho thấy việc xây dựng hồ sơ áo dài không đơn thuần là một hoạt động chuyên môn, mà là nhiệm vụ văn hóa mang ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao vị thế Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới.
Lịch sử lâu đời và kiểu dáng độc đáo là chưa đủ
Theo Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, UNESCO không ghi danh một hiện vật hay một sản phẩm vật chất mà ghi nhận những tri thức, kỹ năng, tập quán xã hội và thực hành văn hóa được cộng đồng sáng tạo, lưu truyền và gìn giữ.
Vì vậy, hồ sơ áo dài sẽ phải kể được câu chuyện về cả một không gian văn hóa sống. Đó là nghề dệt lụa, nghề nhuộm, nghề thêu, nghề may; là kỹ năng cắt may và tạo dáng; là tập quán mặc áo dài trong đời sống cộng đồng; là những lễ hội áo dài, các hoạt động trình diễn, quảng bá, giáo dục; là sự tham gia của các nghệ nhân, nhà thiết kế, làng nghề, trường học và hàng triệu người dân. Quan trọng hơn, hồ sơ phải chứng minh rằng áo dài vẫn đang được cộng đồng gìn giữ, thực hành và truyền lại cho các thế hệ sau. Đó là tiêu chí cốt lõi quyết định thành công của hồ sơ.
Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng một hệ sinh thái riêng cho áo dài. Muốn làm được điều đó, việc xây dựng hồ sơ UNESCO cần song hành với các chính sách phát triển. Đó là bảo tồn nghề dệt lụa, nghề thêu và nghề may truyền thống; hỗ trợ các nhà thiết kế sáng tạo trên nền tảng giá trị truyền thống; đưa áo dài vào trường học, lễ hội và các hoạt động cộng đồng; xây dựng các bảo tàng, trung tâm trải nghiệm, tuyến du lịch và không gian sáng tạo về áo dài. Quan trọng hơn cả là tạo điều kiện để người dân mặc áo dài nhiều hơn trong đời sống thường nhật. Bởi một di sản chỉ thật sự sống khi được cộng đồng thực hành mỗi ngày.
Nếu được UNESCO ghi danh, giá trị lớn nhất của áo dài không chỉ nằm ở tấm bằng công nhận. Điều quan trọng hơn là di sản sẽ có cơ hội bước vào một bước phát triển mới, trong đó văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, coi văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là nguồn lực nội sinh cho phát triển kinh tế.
Áo dài hội tụ đầy đủ các yếu tố để trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa tiêu biểu. Đó là: thời trang, thiết kế sáng tạo, thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn; điện ảnh, nhiếp ảnh, quảng cáo; du lịch văn hóa và ngoại giao văn hóa.
Thực tế cho thấy, nhiều bộ sưu tập áo dài của các nhà thiết kế Việt đã xuất hiện tại các tuần lễ thời trang quốc tế; nhiều bộ phim, chương trình nghệ thuật, lễ hội và sự kiện ngoại giao đã lựa chọn áo dài làm hình ảnh nhận diện.
Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia đã biến trang phục truyền thống thành biểu tượng quốc gia và nguồn lực kinh tế. Kimono của Nhật Bản không chỉ tồn tại trong bảo tàng mà hiện diện trong du lịch, thời trang, giáo dục và công nghiệp sáng tạo. Hanbok của Hàn Quốc được quảng bá mạnh mẽ thông qua điện ảnh, truyền hình, âm nhạc, lễ hội và các điểm du lịch, góp phần tạo nên sức hấp dẫn của làn sóng văn hóa Hàn.
Ở nhiều địa phương, Lễ hội Áo dài đã trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước, như Huế đang xây dựng thương hiệu “Kinh đô Áo dài”, đưa áo dài trở thành điểm nhấn trong Festival Huế và các hoạt động văn hóa bốn mùa. Hà Nội nhiều năm qua tổ chức Festival Áo dài gắn với không gian di sản Hồ Gươm, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, góp phần quảng bá hình ảnh Thủ đô nghìn năm văn hiến. TP HCM cũng liên tục tổ chức Lễ hội Áo dài, từng bước đưa sự kiện trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc đầu năm. Điều đó cho thấy áo dài không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn có khả năng tạo ra giá trị kinh tế nếu được đầu tư đúng hướng.
Thuỳ Dương
Nguồn:baophapluat.vn

















