
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng ở mức 2 con số, việc xây dựng dự án Luật Phát triển đô thị (PTĐT) không chỉ nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương lớn của Đảng, mà còn tạo lập khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, khắc phục những “điểm nghẽn” về cơ chế, chính sách, phát huy vai trò đầu tàu của TP HCM, các TP và các khu kinh tế đặc biệt (KKTĐB), qua đó hình thành các cực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.
Thể chế hóa kịp thời các chủ trương lớn của Đảng về PTĐT
Việc xây dựng dự án Luật PTĐT trước hết xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định nhiều nhiệm vụ trọng tâm liên quan trực tiếp đến PTĐT. Trong đó, nổi bật là yêu cầu tiếp tục phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trong các lĩnh vực đầu tư, xây dựng, đất đai và tài chính; hoàn thiện thể chế liên kết vùng; xây dựng cơ chế huy động nguồn lực đầu tư các công trình hạ tầng chiến lược; PTĐT theo mô hình giao thông công cộng (TOD); thúc đẩy chuyển đổi số, PTĐT thông minh; ban hành các chính sách đồng bộ nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn…
Đặc biệt, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP HCM trong kỷ nguyên mới đã tạo nền tảng chính trị trực tiếp cho việc xây dựng đạo luật này. Nghị quyết xác định mục tiêu đưa TP HCM trở thành biểu tượng phát triển năng động của Việt Nam trong thế kỷ XXI; đầu tàu tăng trưởng, cực đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế của cả nước; đồng thời khẳng định yêu cầu nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Đô thị đặc biệt nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định và thông thoáng để TP khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế. Không chỉ dừng lại ở TP HCM, nhiều nội dung mang tính đột phá được xác định trong Nghị quyết số 09-NQ/TW cũng là cơ sở quan trọng để thể chế hóa thành các quy định chung của dự án Luật PTĐT.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ yêu cầu sớm xây dựng và ban hành luật về quản lý và PTĐT bền vững; hoàn thiện khung pháp lý cho PTĐT thông minh, quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, không gian ngầm đô thị cũng như xây dựng cơ chế giải quyết các vấn đề liên ngành, liên vùng…
Ngoài ra, Bộ Chính trị yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phát triển TP HCM trở thành đô thị hiện đại, thông minh, dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa; phát triển các mô hình đô thị mới theo định hướng TOD; nghiên cứu mô hình quản lý vùng đô thị phù hợp với giai đoạn phát triển mới; đồng thời tăng cường phân quyền về tài chính, ngân sách cho các đô thị lớn, đặc biệt là các đô thị đặc biệt và các TP trực thuộc Trung ương.
Những định hướng này cũng được nhấn mạnh trong Kết luận số 224-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, với yêu cầu tập trung phát triển Thủ đô Hà Nội và TP HCM trở thành các đô thị văn minh toàn cầu; rà soát, hoàn thiện các cơ chế đặc thù để huy động tối đa nguồn lực công – tư cho các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính kết nối trong vùng kinh tế trọng điểm.
Đáng chú ý, Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030 đã đặt mục tiêu hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị và đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu; đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa; phát triển hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại gắn với đô thị xanh, đô thị thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu; khai thác hiệu quả không gian ngầm và không gian tầm thấp.
Một dấu mốc quan trọng khác là Kết luận số 17-KL/TW ngày 2/4/2026 của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI đã chính thức đưa việc nghiên cứu xây dựng dự án luật về đô thị đặc biệt vào định hướng lập pháp của nhiệm kỳ. Đây là những yêu cầu hoàn toàn mới, vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh của các quy định hiện hành, đòi hỏi phải hình thành một khuôn khổ pháp lý đủ mạnh để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển trong dài hạn.
Đặc biệt, trên cơ sở ý kiến của Bộ Chính trị tại Văn bản số 3377-CV/VPTW ngày 28/6/2026, phạm vi nghiên cứu của dự án luật không còn giới hạn ở TP HCM mà được định hướng mở rộng đối với TP Đồng Nai và tiếp tục nghiên cứu áp dụng cho các TP trực thuộc Trung ương khác. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy xây dựng pháp luật, từ việc thiết kế một đạo luật dành riêng cho một đô thị đặc biệt sang hình thành khuôn khổ pháp lý chung về PTĐT có khả năng áp dụng rộng hơn, tạo động lực cho nhiều cực tăng trưởng của đất nước.
Những đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn phát triển
Bên cạnh cơ sở chính trị vững chắc, việc xây dựng Luật PTĐT còn xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển mới.
Trong những năm gần đây, Quốc hội đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù dành cho TP HCM. Nổi bật là Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP HCM; Nghị quyết số 260/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 98. Theo đó, nhiều chính sách mới được bổ sung như ưu tiên các dự án chiến lược có sức lan tỏa vùng và quốc gia; xây dựng quy hoạch tổng thể tích hợp thay thế cách tiếp cận phân tán trước đây; tạo điều kiện PTĐT theo định hướng giao thông công cộng (TOD); tiếp tục mở rộng phân quyền, phân cấp nhằm phát huy tính chủ động của chính quyền TP.
Quốc hội cũng đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề liên quan trực tiếp đến PTĐT như cơ chế phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP HCM; thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam… Những chính sách này đều hướng tới mục tiêu tháo gỡ các “nút thắt” về thể chế, song vẫn được điều chỉnh bằng nhiều văn bản riêng lẻ, thiếu một đạo luật thống nhất điều chỉnh toàn diện.
Vì vậy, ngày 3/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 143/NQ-CP thống nhất đề xuất xây dựng dự án Luật Đô thị đặc biệt theo trình tự, thủ tục rút gọn. Sau quá trình nghiên cứu, rà soát và đánh giá toàn diện, tại Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 7/2026, Chính phủ tiếp tục thống nhất đổi tên dự án thành Luật PTĐT, đồng thời mở rộng phạm vi áp dụng không chỉ đối với TP HCM mà còn bao gồm các TP và các KKTĐB. Việc thay đổi tên gọi không đơn thuần là điều chỉnh về kỹ thuật lập pháp mà phản ánh sự thay đổi trong tư duy xây dựng thể chế khi tên gọi “Luật PTĐT” có phạm vi điều chỉnh rộng hơn, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng các cơ chế phát triển phù hợp với từng loại hình đô thị, đồng thời mở rộng sang các KKTĐB – những không gian phát triển mới được kỳ vọng trở thành các cực tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Còn từ góc độ thực tiễn, nhu cầu ban hành đạo luật này càng trở nên cấp thiết khi nhìn vào quá trình phát triển của TP HCM. Trong nhiều nhiệm kỳ qua, TP luôn được Trung ương xác định là đầu tàu kinh tế của cả nước và được trao nhiều cơ chế đặc thù để phát huy vai trò động lực tăng trưởng. Tuy nhiên, mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, TP vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế vốn có; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế chưa tương xứng với quy mô và vị thế.
Theo đánh giá tại hồ sơ dự án Luật, trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành và TP HCM có quy mô diện tích, dân số lớn hơn sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu xây dựng một khuôn khổ pháp lý mới càng trở nên cấp bách nhằm tạo điều kiện để TP phát triển theo mô hình siêu đô thị đa trung tâm, tăng cường liên kết vùng và từng bước khẳng định vị thế trong mạng lưới đô thị toàn cầu.
Không chỉ đối với các đô thị, yêu cầu hoàn thiện thể chế cũng được đặt ra đối với các KKTĐB. Theo nghiên cứu của cơ quan soạn thảo, trên thế giới hiện có khoảng 7.000 KKTĐB tại hơn 140 quốc gia. Đây được xem là những “phòng thí nghiệm chính sách”, nơi các quốc gia thử nghiệm các cơ chế quản lý mới, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thu hút các nguồn lực chiến lược và hình thành các cực tăng trưởng mới.
Trong khi đó, Việt Nam hiện có 46 khu kinh tế với nhiều lợi thế về cảng biển, sân bay, vị trí địa lý và nguồn nhân lực, nhưng hiệu quả khai thác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều khu kinh tế có quy mô rất lớn song tỷ lệ lấp đầy còn thấp, hạ tầng chưa đồng bộ, sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược còn hạn chế.
Bên cạnh đó, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước đã hình thành 13 đặc khu trên cơ sở các huyện đảo trước đây. Tuy nhiên, trình độ phát triển giữa các đặc khu còn chênh lệch đáng kể, phản ánh sự khác biệt về hạ tầng, thể chế và khả năng liên kết vùng. Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng một khung chính sách thống nhất, đủ mạnh để vừa phát huy vai trò của các đặc khu động lực, vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Từ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc xây dựng Luật PTĐT được xác định là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Đạo luật không chỉ tạo lập khuôn khổ pháp lý ổn định, lâu dài cho TP HCM mà còn mở rộng không gian phát triển đối với các TP và KKTĐB; đồng thời hình thành các cơ chế đột phá về phân cấp, phân quyền, huy động nguồn lực, đổi mới sáng tạo và liên kết vùng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng các cực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng để Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, bền vững.
Nguồn: baophapluat.vn

















