
Ông Lê Văn Chung, Vụ Bưu chính (Bộ Khoa học và Công nghệ) chia sẻ về công tác bảo đảm an toàn, an ninh trong hoạt động bưu chính. (Ảnh: Thu Giang)
(PLVN) – Bưu chính đang trở thành một mắt xích quan trọng của thương mại điện tử và nền kinh tế số, với sản lượng bưu gửi tăng nhanh, chủ yếu là các gói, kiện hàng hóa. Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, tăng cường quản lý bằng dữ liệu, nhận diện rủi ro và định danh, truy vết bưu gửi trong suốt hành trình.
Không còn là câu chuyện của những cánh thư
Phát biểu tại Hội nghị truyền thông chính sách đối với dự án Luật Bưu chính (sửa đổi) do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại Hà Nội, ông Lã Hoàng Trung, Vụ trưởng Vụ Bưu chính cho rằng, thị trường bưu chính đã thay đổi mạnh mẽ so với thời điểm Luật Bưu chính năm 2010 được ban hành.
Năm 2025, sản lượng bưu gửi đạt khoảng 4,1 tỷ, cao hơn 12 lần so với năm 2010; doanh thu khoảng 87.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, hơn 90% sản lượng hiện là các gói, kiện hàng hóa, cho thấy hoạt động bưu chính ngày càng gắn chặt với thương mại điện tử và chuỗi cung ứng hàng hóa.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, thị trường có khoảng 765 doanh nghiệp, doanh thu đạt 52.200 tỷ đồng và sản lượng khoảng 2,5 tỷ bưu gửi, tăng 35% so với cùng kỳ. Quy mô giao dịch lớn cùng mạng lưới nhiều tầng, nhiều chủ thể tham gia khiến phương thức quản lý chỉ dựa vào kiểm tra trực tiếp tại điểm tiếp nhận không còn đủ để bao quát các nguy cơ phát sinh.
Theo ông Lã Hoàng Trung, yêu cầu đặt ra hiện nay là chuyển phương thức quản lý từ “cấp phép, tiền kiểm” sang “đăng ký, công khai, hậu kiểm”; từ kiểm tra đồng loạt sang quản lý bằng dữ liệu và rủi ro.
Dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi) gồm 8 chương, 51 điều, trong đó Chương V về bưu chính số và bảo đảm an toàn, an ninh gồm 9 điều. Dự thảo bổ sung, chuẩn hóa các khái niệm về bưu chính số, mạng bưu chính, doanh nghiệp vận hành và không vận hành mạng.
Một điểm đáng chú ý là bưu gửi được xác định gồm thư và gói, kiện hàng hóa, được xử lý riêng lẻ, định danh và có khả năng theo dõi, truy vết trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Một số dịch vụ như lưu kho, xử lý đơn hàng, đóng gói, hoàn trả có thể thuộc dịch vụ bưu chính nếu gắn trực tiếp với từng bưu gửi và được tổ chức trên mạng bưu chính; logistics độc lập không thuộc phạm vi này.
Cùng với đó, dự thảo đặt trọng tâm vào định danh và truy vết. Theo Điều 40, mỗi bưu gửi được gắn một mã nhận dạng duy nhất ngay từ thời điểm chấp nhận và duy trì trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ để theo dõi, quản lý và truy vết. Việc xác thực tăng cường thông tin người gửi được thực hiện theo mức độ rủi ro thay vì áp dụng cứng nhắc với tất cả trường hợp.
Cách tiếp cận này nhằm tạo cơ sở để cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thể xác định bưu gửi đang ở đâu, do chủ thể nào xử lý và những thông tin liên quan được hình thành trong quá trình vận chuyển, qua đó nâng cao khả năng phát hiện và xử lý bất thường.
Nhận diện rủi ro từ người gửi đến hành trình bưu gửi
Cùng với hoàn thiện khung pháp lý, việc nâng cao năng lực nhận diện bưu gửi có dấu hiệu bất thường được xem là một yêu cầu quan trọng trong bảo đảm an toàn, an ninh bưu chính.
Theo ông Lê Văn Chung, Chuyên viên chính Vụ Bưu chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, sự phát triển của thương mại điện tử làm gia tăng số lượng giao dịch không đối mặt. Người gửi có thể tạo đơn hàng thông qua ứng dụng, điểm tự động hoặc nhiều chủ thể trung gian mà không trực tiếp tiếp xúc với nhân viên bưu chính.

Bưu chính đang trở thành một mắt xích quan trọng của thương mại điện tử và nền kinh tế số. (Ảnh minh họa – Nguồn: ST)
Trong khi đó, thông tin người gửi có thể thiếu, không chính xác hoặc có dấu hiệu giả mạo. Mạng lưới bưu chính gồm nhiều điểm chấp nhận, trung chuyển và phát, khiến việc kiểm soát toàn bộ hành trình của một bưu gửi trở nên phức tạp. Hình thức giao hàng thu tiền hộ cũng có thể tạo khoảng cách giữa người gửi, giao dịch và dòng tiền, tạo kẽ hở để đối tượng vi phạm lợi dụng.
Tại Hội nghị, các dấu hiệu rủi ro được hệ thống hóa thành 6 nhóm. Thứ nhất là dấu hiệu từ người gửi, như thái độ lo lắng, vội vàng, né tránh camera hoặc trả lời không nhất quán về hàng hóa.
Thứ hai là thông tin. Tên, địa chỉ, số điện thoại không đầy đủ, khó kiểm chứng hoặc không thể liên lạc được có thể làm tăng mức độ rủi ro. Thứ ba là đặc điểm kiện hàng. Những bưu gửi được đóng gói quá mức, nội dung khai báo không tương xứng với trọng lượng, hình dạng hoặc có mùi bất thường cần được lưu ý.
Thứ tư là dấu hiệu vật lý như rò rỉ, phát nhiệt, rung, phát tiếng động, có mùi hóa chất hoặc trạng thái bất thường của kiện hàng. Thứ năm là lịch sử giao dịch, gồm tần suất gửi, nhận, hoạt động COD, thời điểm giao dịch hoặc những thay đổi bất thường trong hành vi. Cuối cùng là đánh giá tổng thể, trong đó xem xét tuyến vận chuyển, sự thay đổi người nhận, cảnh báo từ cơ quan chức năng và sự kết hợp của nhiều dấu hiệu khác nhau.
Tuy nhiên, ông Chung nhấn mạnh các dấu hiệu này chỉ là đầu vào để đánh giá rủi ro. Doanh nghiệp không nên kết luận một bưu gửi vi phạm pháp luật chỉ dựa trên một biểu hiện đơn lẻ. Việc đánh giá cần dựa trên tổng thể thông tin người gửi, đặc điểm bưu gửi, lịch sử giao dịch, hành trình vận chuyển và các dấu hiệu bất thường liên quan. Theo ông Lê Văn Chung, khi xuất hiện dấu hiệu nghi vấn, nguyên tắc xử lý được đặt ra là bình tĩnh, an toàn, đúng thẩm quyền và đúng pháp luật. Quy trình cần chuyển từ phán đoán sang các bước phát hiện, đánh giá, áp dụng biện pháp phù hợp và phối hợp xử lý…
Theo lộ trình dự kiến, Luật Bưu chính (sửa đổi) sẽ được Quốc hội khóa XVI xem xét tại Kỳ họp thứ 2 vào tháng 10/2026 và dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/7/2027, thay thế Luật Bưu chính năm 2010.
Phân loại và xác định doanh nghiệp bưu chính
Từ góc độ doanh nghiệp, đại diện Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam đánh giá dự thảo đã kế thừa Luật Bưu chính năm 2010, đồng thời bổ sung nhiều nội dung phù hợp với thực tiễn như phân loại doanh nghiệp vận hành và không vận hành mạng, bưu chính số, thử nghiệm có kiểm soát, định danh và xác thực người gửi theo mức độ rủi ro. Việc chuyển từ cấp phép sang đăng ký cũng được đánh giá sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh.
Trong khi đó, đại diện Công ty Giao Hàng Nhanh đề nghị làm rõ việc xác định doanh nghiệp bưu chính trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vận hành chủ yếu trên nền tảng công nghệ, điều phối đơn hàng qua ứng dụng nhưng không sở hữu toàn bộ kho, bưu cục hay điểm phục vụ vật lý. Doanh nghiệp cũng đặt vấn đề về quy định chuyển tiếp 12 tháng và cách thức xử lý đối với trường hợp sau rà soát không còn đáp ứng điều kiện hoặc không còn thuộc phạm vi doanh nghiệp bưu chính.
Uyên Na
Nguồn: baophapluat.vn


















