Mưa cực đoan, đô thị hóa nhanh và hạ tầng chưa đồng bộ đòi hỏi Hà Nội chuyển từ xử lý điểm ngập sang quản trị rủi ro trên toàn lưu vực.
Hạ tầng thoát nước trước áp lực mưa cực đoan
Khoảng 17 giờ ngày 27/8, mây dông bao phủ nhiều khu vực Hà Nội, gây mưa lớn tại Liên Minh, Yên Lãng, Ô Diên, Hoài Đức, Cầu Giấy, Từ Liêm, Tây Hồ, Bồ Đề, Việt Hưng… Mưa lớn gây ngập cục bộ tại một số tuyến đường như Phạm Văn Bạch, Dương Đình Nghệ, Trung Kính, Văn Cao – Liễu Giai, Đội Cấn, Tây Mỗ, Võ Chí Công, Ngoại giao đoàn…, có nơi ngập khoảng nửa bánh xe, khiến giao thông ùn ứ. Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội đã huy động lực lượng ứng trực tại các điểm ngập, khơi thông dòng chảy, dọn rác tại miệng hố ga nhằm hỗ trợ tiêu thoát nước nhanh.

Những trận mưa lớn xảy ra thời gian qua cho thấy bài toán ngập úng của TP. Hà Nội ngày càng phức tạp. Khi cường độ mưa vượt xa thông số thiết kế, trong khi hệ thống hồ điều hòa, kênh dẫn, trạm bơm và công trình đầu mối chưa được đầu tư đồng bộ, việc chỉ tăng năng lực tiêu thoát khó có thể giải quyết triệt để tình trạng ngập. Tại Hội thảo quốc tế “Quản lý ngập lụt đô thị và quản lý lưu vực sông”, ông Lê Văn Du, Trưởng phòng Quản lý hạ tầng cấp, thoát nước (Sở Xây dựng Hà Nội), cho biết Quy hoạch thoát nước Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 725/QĐ-TTg ngày 10/5/2013, tính toán với lượng mưa 310 mm trong 2 ngày, lượng mưa ngày cao nhất hơn 200 mm và chu kỳ lặp lại 10 năm.
Theo quy hoạch, hệ thống tiêu thoát nước Hà Nội được tổ chức thành 3 vùng chính gồm Tả Đáy, Hữu Đáy và Bắc Hà Nội, với tổng diện tích khoảng 125.400 ha. Quy hoạch cũng xác định khoảng 5.405 ha hồ điều hòa và tổng công suất các trạm bơm khoảng 1.325 m³/giây. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ, nhiều hạng mục vẫn chưa được đầu tư đồng bộ. Tại vùng Tả Đáy, lưu vực Tô Lịch với diện tích khoảng 77,5 km² đã được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, trong khi nhiều lưu vực như Tả Nhuệ, Hữu Nhuệ, Đông Mỹ, Phú Xuyên và các thị trấn vẫn thiếu hệ thống thoát nước đồng bộ. Vùng Hữu Đáy và khu vực Bắc sông Hồng cũng còn nhiều hạng mục chưa hoàn thành theo quy hoạch.
Áp lực càng lớn khi thực tế xuất hiện những trận mưa vượt xa thông số thiết kế. Trong các đợt mưa lớn từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10/2025, lượng mưa phổ biến tại Hà Nội đạt 200-400 mm trong 2 ngày, một số nơi trên 500-600 mm, vượt đáng kể mức 310 mm/2 ngày được tính toán trong Quy hoạch 725. Tại khu vực Hai Bà Trưng, lượng mưa trong đợt ảnh hưởng của bão số 5 đạt 584,8 mm trong 2 ngày, cao hơn 188,6% so với công suất thiết kế. Khi lượng nước vượt quá khả năng tiếp nhận của hệ thống, tình trạng ngập khó tránh khỏi, ngay cả khi các công trình được vận hành đầy đủ.
Không chỉ lượng mưa, mực nước các sông ngoại thành cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thoát. Tại đập Thanh Liệt, mực nước sông Nhuệ có thời điểm lên khoảng 5,7-5,9 m, trong khi mực nước khống chế theo quy hoạch là 4,5 m. Trong khi đó, cao độ nền tại một số khu đô thị, khu dân cư thuộc lưu vực Tả Nhuệ, Hữu Nhuệ chỉ khoảng 5-5,5 m, khiến khả năng tiêu thoát tự chảy bị hạn chế.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Đặng Minh Hải, Phó Trưởng khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, Trường Đại học Thủy lợi, cho hay, điểm nghẽn của hệ thống thoát nước Hà Nội không nằm ở một công trình riêng lẻ mà ở mức độ hoàn thiện đồng bộ của cả chuỗi hồ điều hòa – kênh dẫn – trạm bơm – nguồn tiếp nhận. Thực tế, diện tích hồ điều hòa hiện mới khoảng 1.010 ha, thấp hơn đáng kể so với quy mô khoảng 5.405 ha được định hướng trong Quy hoạch 725. Một số công trình đầu mối dù có công suất lớn nhưng chưa thể khai thác đầy đủ do các hạng mục liên quan chưa hoàn chỉnh.
Đơn cử, trạm bơm Yên Nghĩa có công suất 120 m³/giây nhưng hiệu quả khai thác còn phụ thuộc vào việc hoàn thiện kênh La Khê, hồ điều hòa và tuyến xả ra sông Đáy. Cụm Liên Mạc và một số trạm bơm khác cũng đang được đầu tư theo từng giai đoạn. Cùng với đó, quá trình đô thị hóa làm giảm diện tích bề mặt có khả năng thấm nước. Một số tuyến kênh, mương tiêu thoát bị lấn chiếm, trong khi hệ thống thoát nước tại một số khu đô thị mới chưa được khớp nối đầy đủ với hạ tầng khu vực. Chênh lệch cao độ nền giữa các dự án và khu dân cư hiện hữu cũng tạo thêm những điểm nghẽn trong tiêu thoát nước.
Từ xử lý điểm ngập đến quản trị rủi ro toàn lưu vực
Trước mắt, Hà Nội đã triển khai 10 dự án đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp, gồm 5 dự án về hệ thống thoát nước và 5 dự án hồ điều hòa, nhằm từng bước khớp nối mạng lưới hiện trạng và nâng cao năng lực chống ngập. Sau hơn 4 tháng thi công, một số công trình như trạm bơm Phú Thượng, hồ Cự Khối và các dự án thoát nước đã cơ bản hoàn thành, đưa vào sử dụng. Theo đánh giá của Sở Xây dựng Hà Nội, qua các trận mưa gần đây, nhiều khu vực đã giảm độ sâu và thời gian ngập. Một số điểm như Võ Chí Công, Ressco, Eco Home, Mỹ Đình ghi nhận mức ngập khoảng 15-20 cm và nước rút trong khoảng 30 phút sau khi mưa kết thúc.
Về trung và dài hạn, thành phố đang đẩy nhanh 12 dự án thoát nước theo quy hoạch, tập trung vào các trạm bơm, hồ điều hòa, kênh dẫn và hệ thống tiêu tại các lưu vực Tả Nhuệ, Hữu Nhuệ, Long Biên, Bắc sông Hồng, Hà Đông và phía Tây. Trong đó, tuyến kênh La Khê kết nối sông Nhuệ với trạm bơm Yên Nghĩa được hoàn thiện sẽ góp phần nâng cao khả năng tiêu thoát và hỗ trợ hạ mực nước sông Nhuệ.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Đặng Minh Hải, mở rộng năng lực tiêu thoát mới chỉ là một phần của bài toán. Trong bối cảnh mưa cực đoan có thể vượt thông số thiết kế, Hà Nội cần đánh giá lại năng lực hệ thống theo nhiều kịch bản mưa khác nhau để xác định rõ mức độ chống chịu của từng khu vực. Việc xây dựng các mô hình mô phỏng, dự báo ngập theo từng kịch bản có thể giúp cơ quan quản lý xác định thứ tự ưu tiên đầu tư, đồng thời cung cấp thông tin để người dân chủ động ứng phó khi xảy ra mưa lớn.
Theo chuyên gia này, trước hết cần rà soát, cập nhật Quy hoạch 725. Sau hơn 10 năm, nhiều dữ liệu đầu vào đã thay đổi, trong khi quá trình đô thị hóa và diễn biến thời tiết cũng xuất hiện những điều kiện mới. Việc cập nhật quy hoạch cần dựa trên dữ liệu thực tế, phản ánh sát hơn tốc độ phát triển đô thị và diễn biến mưa lũ. Cùng với đó, cần ưu tiên các công trình đầu mối có vai trò quyết định đến năng lực tiêu thoát như cống, hồ điều hòa và trạm bơm; đồng thời tăng cường kết nối giữa hệ thống thoát nước đô thị với hệ thống thủy lợi.
Một yêu cầu khác là kiểm soát chặt hạ tầng thoát nước tại các khu đô thị mới. Cao độ nền, khả năng đấu nối và năng lực tiêu thoát của hệ thống chung cần được tính toán đồng bộ ngay từ khâu quy hoạch, tránh tình trạng hệ thống nội bộ đáp ứng yêu cầu của một dự án nhưng lại trở thành điểm nghẽn khi kết nối với khu vực xung quanh.
Đáng chú ý, Hà Nội đang định hướng từng bước áp dụng mô hình “thành phố bọt biển”, thay vì chỉ tập trung đưa nước ra khỏi đô thị. Theo đó, các dự án mới sẽ được nghiên cứu theo hướng tăng khả năng giữ nước, thấm nước, điều tiết và tái sử dụng nước mưa.
Trong điều kiện quỹ đất dành cho hồ điều hòa tại khu vực đô thị ngày càng hạn chế, giải pháp bể ngầm trữ nước tại không gian công cộng cũng có thể được nghiên cứu. Tuy nhiên, do suất đầu tư cao, giải pháp này không nên áp dụng đại trà mà cần ưu tiên những khu vực có mật độ dân cư lớn, tập trung nhiều tài sản và có nguy cơ ngập cao.
Theo các chuyên gia trong ngành, bài toán chống ngập của Hà Nội đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi về cách tiếp cận. Không thể chỉ dựa vào việc xây thêm cống, trạm bơm để “thoát nước thật nhanh”, bởi khả năng xuất hiện những trận mưa vượt thiết kế vẫn còn. Thay vào đó, thành phố cần kết hợp giữa tăng năng lực tiêu thoát, mở rộng không gian trữ nước, bảo vệ hành lang thoát nước, kiểm soát cao độ nền và khớp nối hạ tầng giữa các khu vực. Từ xử lý từng điểm ngập sang quản trị rủi ro theo lưu vực, từ đưa nước ra khỏi đô thị sang giữ và điều tiết nước tại chỗ, đây được xem là hướng đi cần thiết để Hà Nội nâng cao khả năng chống chịu trước những diễn biến ngày càng cực đoan của thời tiết.
Trong bối cảnh mưa lớn cực đoan có thể vượt thông số thiết kế, việc mở rộng năng lực tiêu thoát vẫn cần thiết nhưng chưa đủ. Hà Nội cần đồng thời tăng không gian trữ nước, bảo vệ hành lang thoát nước, kiểm soát cao độ nền và khớp nối hạ tầng giữa các dự án. Bài toán chống ngập vì thế cần được tiếp cận từ xử lý từng điểm ngập sang quản trị rủi ro trên toàn lưu vực, qua đó nâng cao khả năng thích ứng của đô thị trước biến đổi khí hậu.
Nguyễn Hạnh
Nguồn: congthuong.vn


















