Công suất trạm bơm và diện tích hồ điều hòa của Hà Nội hiện mới đạt khoảng 30% yêu cầu Quy hoạch 725, trong khi mưa lớn cực đoan đặt ra yêu cầu cấp thiết về đầu tư.
Phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với PGS.TS Đặng Minh Hải, Phó Trưởng khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, Trường Đại học Thủy lợi xung quanh vấn đề này.
Năng lực thoát nước còn khoảng trống lớn
– Thưa ông, từ thực tế các trận mưa lớn vừa qua, ông đánh giá thế nào về năng lực thoát nước của Hà Nội hiện nay?
PGS.TS Đặng Minh Hải: Hệ thống thoát nước Hà Nội được xây dựng từ nhiều năm và hiện được triển khai theo Quy hoạch thoát nước Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được phê duyệt tại Quyết định số 725/QĐ-TTg năm 2013. Quy hoạch chia Hà Nội thành 3 vùng tiêu là Tả Đáy, Hữu Đáy và Bắc Hà Nội, gồm 18 lưu vực với diện tích khoảng 125.400 ha. Hệ thống được định hướng với khoảng 5.405 ha hồ điều hòa, 48 trạm bơm, tổng công suất dự kiến khoảng 1.315 m³/giây.

Tuy nhiên, tiến độ đầu tư các công trình đầu mối hiện còn thấp so với yêu cầu. Diện tích hồ điều hòa thực tế khoảng 1.010 ha, chưa đến một phần năm quy mô định hướng. Một số công trình lớn cũng chưa phát huy đầy đủ công suất do các hạng mục liên quan chưa hoàn chỉnh. Chẳng hạn, trạm bơm Yên Nghĩa có công suất 120 m³/giây nhưng hiệu quả khai thác còn phụ thuộc vào việc hoàn thiện kênh La Khê, hồ điều hòa và tuyến xả ra sông Đáy. Cụm Liên Mạc và một số trạm bơm khác cũng đang được đầu tư theo giai đoạn. Do đó, điểm nghẽn của hệ thống thoát nước Hà Nội không nằm ở một công trình đơn lẻ mà ở mức độ hoàn thiện đồng bộ của cả chuỗi hồ điều hòa – kênh dẫn – trạm bơm – nguồn tiếp nhận.
Theo Quy hoạch 725, hệ thống được tính toán với trận mưa thiết kế khoảng 310 mm trong 2 ngày đối với hệ thống không chính và 70 mm/giờ đối với một số tuyến cống chính. Ngay cả trong phạm vi trận mưa thiết kế, một số tuyến cống nhánh vẫn có thể xảy ra ngập. Thực tế, công suất trạm bơm hiện mới đạt khoảng 30% yêu cầu của quy hoạch và diện tích hồ điều hòa cũng mới đạt khoảng 30% định hướng. Như vậy, khối lượng đầu tư còn lại rất lớn. Tuy nhiên, ngay cả khi hoàn thiện các hạng mục theo quy hoạch, nếu xuất hiện trận mưa vượt tần suất thiết kế, nguy cơ ngập vẫn có thể xảy ra. Vì vậy, cần nhìn nhận ngập lụt theo cả hai khía cạnh: năng lực của hệ thống và mức độ cực đoan của trận mưa.
– Như vậy, việc xác định đâu là ngập trong phạm vi thiết kế và đâu là ngập do mưa vượt thiết kế là rất quan trọng, thưa ông?
PGS.TS Đặng Minh Hải: Đúng vậy. Theo tôi, cần đánh giá lại năng lực hệ thống thoát nước Hà Nội trên cơ sở các kịch bản mưa khác nhau, qua đó xác định rõ mức độ đáp ứng của từng khu vực. Với các công cụ hiện nay, hoàn toàn có thể xây dựng mô hình đánh giá, dự báo và mô phỏng ngập theo từng kịch bản. Đây không chỉ là cơ sở để cơ quan quản lý xác định thứ tự ưu tiên đầu tư mà còn giúp người dân nhận biết mức độ rủi ro để chủ động ứng phó. Trong bối cảnh mưa lớn cực đoan diễn biến khó lường, việc minh định khả năng chống chịu của hệ thống là rất cần thiết.
Cần cập nhật quy hoạch, ưu tiên đầu tư công trình đầu mối
– Từ kinh nghiệm quốc tế trong đó có Nhật Bản, theo ông, Hà Nội có thể áp dụng những giải pháp nào để nâng cao khả năng chống ngập?
PGS.TS Đặng Minh Hải: Theo tôi, Việt Nam có thể tham khảo cách tiếp cận của Nhật Bản với ba nhóm giải pháp chính: dẫn nước, trữ nước và chủ động phòng ngừa. Hà Nội thực tế cũng đang triển khai theo hướng này. Về công trình, thành phố đầu tư hệ thống cống, hồ điều hòa, trạm bơm để tăng năng lực tiêu thoát nước. Về phòng ngừa, việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu mưa và các công nghệ như IoT, AI sẽ giúp dự báo nguy cơ ngập, hỗ trợ đưa ra phương án ứng phó và cung cấp thông tin kịp thời cho người dân. Tôi cho rằng, việc kết hợp giữa hạ tầng thoát nước và cảnh báo sớm sẽ giúp Hà Nội chuyển dần từ ứng phó bị động sang chủ động quản lý rủi ro ngập lụt.
– Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư còn hạn chế, đâu là những ưu tiên cần tập trung trong thời gian tới, thưa ông?
PGS.TS Đặng Minh Hải: Trước hết, cần rà soát lại Quy hoạch 725. Sau hơn một thập kỷ, nhiều dữ liệu đầu vào đã thay đổi, trong khi quá trình đô thị hóa cũng tạo ra những điều kiện mới. Vì vậy, quy hoạch cần được cập nhật trên cơ sở dữ liệu mới, phản ánh sát hơn hiện trạng phát triển đô thị và diễn biến mưa lũ.

Thứ hai, cần ưu tiên các công trình đầu mối có vai trò quyết định đến năng lực tiêu thoát nước, gồm cống, hồ điều hòa và trạm bơm. Các trạm bơm khu vực sông Hồng, sông Nhuệ cần được xem xét đầu tư sớm theo định hướng quy hoạch.
Bên cạnh đó, cần bảo vệ không gian trữ nước và tăng cường sự kết nối giữa hệ thống thoát nước đô thị với hệ thống thủy lợi. Hiện nay, giữa các khu vực vẫn tồn tại sự chênh lệch về mức độ hoàn thiện hạ tầng; một số khu vực ngoại thành còn phụ thuộc nhiều vào hệ thống kênh tiêu nông nghiệp.
Đối với các khu đô thị mới, cần kiểm soát tốt cao độ nền, khả năng đấu nối và năng lực tiêu thoát của hệ thống chung, tránh tình trạng mạng cống nội bộ đáp ứng yêu cầu của dự án nhưng lại tạo điểm nghẽn khi kết nối với khu vực xung quanh.
– Một trong những giải pháp được đề cập là xây dựng các bể ngầm trữ nước tại không gian công cộng. Ông đánh giá thế nào về hướng này?
PGS.TS Đặng Minh Hải: Đây là giải pháp cần tiếp tục nghiên cứu, nhất là trong bối cảnh quỹ đất dành cho hồ điều hòa tại khu vực đô thị ngày càng hạn chế. Bể ngầm có thể tăng khả năng trữ nước tại chỗ, qua đó giảm áp lực cho hệ thống thoát nước trong thời điểm mưa lớn. Tuy nhiên, suất đầu tư bể ngầm tương đối cao nên không thể áp dụng đại trà. Cần lựa chọn những khu vực có mật độ dân cư cao, tập trung nhiều tài sản và có mức độ rủi ro ngập lớn để cân nhắc.
Với các khu vực quy hoạch mới, việc bố trí bể ngầm cần được tính toán ngay từ đầu trên cơ sở chi phí đầu tư, lợi ích mang lại và khả năng kiểm soát rủi ro. Đây là kinh nghiệm có thể tham khảo từ Nhật Bản nhưng cần được nghiên cứu để phù hợp với điều kiện kinh tế, không gian và hạ tầng của Hà Nội.
– Vậy đâu là những kinh nghiệm từ Nhật Bản mà Hà Nội có thể ưu tiên áp dụng, thưa ông?
PGS.TS Đặng Minh Hải: Trước mắt, tôi cho rằng, Hà Nội cần tập trung vào hai hướng. Một là tiếp tục ưu tiên đầu tư các công trình có vai trò dẫn và tiêu thoát nước, đặc biệt là những công trình đầu mối còn thiếu hoặc chưa hoàn thiện. Hai là tăng cường khả năng trữ nước tại chỗ thông qua hồ điều hòa và nghiên cứu các công trình bể ngầm ở những vị trí phù hợp.
Quan trọng hơn, các giải pháp cần được đặt trong một hệ thống thống nhất, từ cập nhật quy hoạch, đầu tư hạ tầng, bảo vệ không gian trữ nước đến cảnh báo sớm và nâng cao khả năng chủ động ứng phó của người dân. Đây là cách tiếp cận cần thiết để Hà Nội từng bước giảm rủi ro ngập lụt trước những trận mưa lớn ngày càng khó dự báo.
– Xin cảm ơn ông!
Ngập tại Hà Nội cho thấy hệ thống tiêu thoát nước đang chịu áp lực lớn và phát triển chưa đồng đều giữa các lưu vực. Một số đợt mưa do hoàn lưu bão năm 2025 ghi nhận lượng mưa trên 200 mm, có nơi vượt 400 – 500 mm trong chưa đầy một ngày, khiến nhiều khu vực ngập sâu. Dù thời gian rút nước ở khu vực trung tâm đã cải thiện nhờ hệ thống Yên Sở và các dự án trên lưu vực Tô Lịch, tình trạng ngập kéo dài vẫn xảy ra tại phía Tây, Tây Nam và các khu đô thị mới. Điều này cho thấy năng lực tiêu thoát nước của Hà Nội chưa đồng đều giữa các khu vực.
Nguyễn Hạnh (thực hiện)
Nguồn: congthuong.vn


















