
Hình ảnh bệnh nhi lúc nhập viện. Ảnh: BVCC
Thời gian gần đây, Bệnh viện Da liễu Trung ương tiếp nhận khám và điều trị cho không ít trẻ mắc giang mai bẩm sinh. Thực trạng này là một “hồi chuông” cảnh báo, bởi giang mai bẩm sinh là căn bệnh hoàn toàn có thể ngăn chặn nếu người mẹ được tầm soát và điều trị kịp thời trong thai kỳ…
Bệnh viện Da liễu Trung ương mới tiếp nhận bệnh nhi nữ 2 tháng tuổi nhập viện với nhiều sẩn đỏ có viền vảy ở đầu, lưng, tay chân và lòng bàn tay, bàn chân, kèm sốt cao. Bệnh diễn biến 2 tuần trước khi nhập viện. Trước đó, trẻ đã được chẩn đoán viêm da cơ địa và điều trị nhưng không cải thiện.
Bé là con thứ 2, sinh thường, đủ tháng. Mẹ không được xét nghiệm sàng lọc giang mai và không được điều trị trong suốt thai kỳ.
Qua thăm khám lâm sàng và khai thác tiền sử sản khoa và chỉ định các xét nghiệm chẩn đoán, bệnh nhi được chẩn đoán giang mai bẩm sinh. Kết quả xét nghiệm của trẻ: TPHA định lượng 1/40.960, RPR định lượng 1/128; xét nghiệm của mẹ TPHA định lượng 1/40.960, RPR định lượng 1/128.
Bệnh nhi được điều trị bằng Benzyl Penicillin G 150.000 UI/kg/ ngày, truyền tĩnh mạch trong 10 ngày. Mẹ bệnh nhân cũng được chẩn đoán giang mai, điều trị Benzathyl penicillin G 1.200.000 UI x 06 lọ, tiêm bắp sâu mỗi lần 2 lọ, mỗi bên mông 1 lọ vào một ngày cố định trong tuần.
Khoảng 2 giờ sau liều penicillin đầu tiên, trẻ xuất hiện sốt 39°C và ban đỏ lan tỏa toàn thân. Sau khi được đánh giá, các bác sĩ xác định đây là phản ứng Jarisch–Herxheimer – một phản ứng viêm cấp tính có thể gặp trong những giờ đầu sau điều trị giang mai bằng penicillin, không phải dị ứng thuốc. Bệnh nhi được điều trị hỗ trợ bằng thuốc hạ sốt, corticoid tiêm tĩnh mạch 1mg/ kg, theo dõi sát và tiếp tục sử dụng penicillin theo phác đồ. Sau khoảng 6 giờ, tình trạng cải thiện rõ rệt, trẻ hết sốt, không ghi nhận thêm phản ứng bất lợi.
Sau 10 ngày điều trị, các tổn thương da cải thiện rõ, toàn trạng ổn định, bệnh nhi được xuất viện, hẹn tái khám định kỳ để theo dõi đáp ứng điều trị bằng xét nghiệm huyết thanh học.
BSNT. Nguyễn Minh Hường, Phòng khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs), Bệnh viện Da liễu Trung ương cho biết, giang mai bẩm sinh là hậu quả của sự lây truyền xoắn khuẩn Treponema pallidum từ mẹ sang con trong thai kỳ. Sự lây truyền thường xảy ra từ tháng thứ 4- 5 của thai kỳ, do màng rau thai mỏng đi, máu mẹ dễ dàng trao đổi với máu thai nhi, vì vậy xoắn khuẩn giang mai sẽ xâm nhập vào thai nhi qua rau thai rồi gây bệnh.
Sự biểu hiện bệnh tùy thuộc vào mức độ xoắn khuẩn truyền mẹ sang con. Trường hợp nặng có thể có các biến chứng sản khoa như: sảy thai hoặc thai chết lưu, trẻ đẻ non và có thể tử vong. Trường hợp nhẹ hơn, trẻ mới sinh ra sau vài ngày hoặc vài tháng thấy xuất hiện các thương tổn giang mai, khi đó gọi là giang mai bẩm sinh sớm. Nếu trẻ xuất hiện muộn hơn khi trẻ trên 2 tuổi; gọi là giang mai bẩm sinh muộn.



Hình ảnh bệnh nhi lúc nhập viện điều trị. Ảnh: BVCC
Giang mai bẩm sinh sớm có tổn thương da giống giang mai II ở người lớn, có thể có các triệu chứng: phỏng nước lòng bàn tay, bàn chân, thường gặp hơn là triệu chứng bong vảy ở lòng bàn tay, chân, sổ mũi, khụt khịt mũi, viêm xương sụn, hạch, gan lách to, viêm xương sụn, viêm màng não, viêm màng mạch – võng mạc. Giang mai bẩm sinh muộn ở trẻ > 2 tuổi gồm: viêm mắt, tai, khớp, dị dạng xương và các di chứng do các thương tổn của giang mai bẩm sinh sớm.
TS. BS. Trịnh Minh Trang cho biết thêm: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), riêng năm 2022, ước tính có 700.000 trường hợp giang mai bẩm sinh và khoảng 390.000 kết cục bất lợi của thai kỳ liên quan đến giang mai, bao gồm thai chết lưu, tử vong sơ sinh, sinh non và trẻ mắc giang mai bẩm sinh. Phần lớn các trường hợp này hoàn toàn có thể phòng tránh bằng sàng lọc và điều trị sớm trong thai kỳ.
Nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa giang mai bẩm sinh, TS. BS. Trịnh Minh Trang khuyến cáo, tất cả phụ nữ mang thai cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc giang mai ngay từ lần khám thai đầu tiên (trong 3 tháng đầu thai kỳ). Việc phát hiện và điều trị sớm cho mẹ không chỉ bảo vệ sức khỏe người mẹ mà còn là “tấm lá chắn” hiệu quả nhất phòng ngừa giang mai bẩm sinh cho con.
Đối với các cơ sở y tế, cần tăng cường sự phối hợp liên chuyên khoa giữa Sản khoa – Da liễu – Nhi khoa – Xét nghiệm để chủ động phát hiện, hội chẩn và điều trị kịp thời cho cả mẹ và bé, hướng tới mục tiêu loại trừ hoàn toàn việc lây truyền giang mai từ mẹ sang con.
Đối với cộng đồng, quan hệ tình dục an toàn và duy trì lối sống lành mạnh là chìa khóa hàng đầu để ngăn ngừa nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cần tiếp tục được đẩy mạnh và triển khai sâu rộng. Nâng cao nhận thức cộng đồng không chỉ giúp giảm thiểu gánh nặng bệnh tật cho xã hội mà còn là giải pháp bền vững để bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và thế hệ tương lai.
Ngọc Nga
Nguồn:baophapluat.vn


















