Bộ GD&ĐT vừa ban hành Thông tư số 76/2026/TT-BGDĐT ngày 18/9/2026, ban hành Quy chế tuyển sinh trong giáo dục nghề nghiệp. Quy chế quy định cụ thể đối tượng, hình thức tuyển sinh ở các trình độ đào tạo nghề; trong đó, người từ đủ 11 tuổi có thể đăng ký tuyển sinh trình độ sơ cấp và một số chương trình đào tạo nghề khác nếu đáp ứng điều kiện.
Quy chế quy định việc xác định số lượng và tổ chức tuyển sinh các trình độ đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp. Quy chế áp dụng đối với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; không áp dụng đối với tuyển sinh ngành Giáo dục mầm non trình độ cao đẳng, chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài và đối tượng đi học ở nước ngoài.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 3/11/2026, thay thế một số quy định trước đây về quy chế, xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ trung cấp, cao đẳng, tuyển sinh trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên.
Người từ đủ 11 tuổi có thể đăng ký học sơ cấp nghề

Theo Điều 17 của Quy chế, tuyển sinh trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác được thực hiện nhiều đợt trong năm. Đối tượng tuyển sinh là người từ đủ 11 tuổi trở lên, có trình độ học vấn phù hợp, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của chương trình và nội dung đào tạo; hình thức tuyển sinh là xét tuyển.
Người học có thể đăng ký trực tiếp tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc trực tuyến trên trang thông tin điện tử của cơ sở. Cơ sở đào tạo phải thông báo hình thức tiếp nhận hồ sơ, lệ phí tuyển sinh và tạo điều kiện thuận lợi cho người học.
Đối với trình độ trung cấp, người có bằng tốt nghiệp THCS hoặc đã hoàn thành chương trình giáo dục THCS được dự tuyển theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp. Đối với giáo dục trung học nghề, đối tượng tuyển sinh là người hoàn thành chương trình THCS hoặc tương đương.
Ở trình độ cao đẳng, đối tượng tuyển sinh gồm người có bằng tốt nghiệp THPT hoặc tương đương trở lên; bằng tốt nghiệp trung học nghề hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp. Người tốt nghiệp trung cấp nhưng chưa có bằng THPT có thể sử dụng giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông hoặc giấy chứng nhận đủ yêu cầu khối lượng kiến thức văn hóa THPT phù hợp với ngành, nghề dự tuyển.
Tùy trình độ, ngành, nghề, hiệu trưởng cơ sở giáo dục nghề nghiệp quyết định một trong ba hình thức: xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp xét tuyển và thi tuyển.
Với ngành có thi tuyển, đề thi phải phù hợp trình độ thí sinh, kiểm tra kiến thức, kỹ năng cơ bản và khả năng vận dụng; bảo đảm tính khoa học, chính xác, chặt chẽ, rõ ràng, không sai sót. Thí sinh có quyền đề nghị phúc khảo trong 15 ngày kể từ ngày công bố kết quả trúng tuyển; Hội đồng tuyển sinh phải trả lời chậm nhất trong 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn.
Nhiều nhóm được hưởng chính sách ưu tiên
Quy chế quy định chính sách ưu tiên theo đối tượng và khu vực. Nhóm ưu tiên 1 (UT1) gồm một số đối tượng như người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú tại các địa bàn thuộc diện quy định; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh; một số quân nhân, công an; quân nhân, công an đã xuất ngũ được công nhận hoàn thành nghĩa vụ.
Đáng chú ý, con liệt sĩ; con thương binh, con bệnh binh bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động thuộc nhóm UT1.
Nhóm ưu tiên 2 (UT2) gồm một số quân nhân, công an; người dân tộc thiểu số ngoài các khu vực thuộc đối tượng 01; con thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh có mức suy giảm khả năng lao động dưới 81%; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dưới 81%.
Người khuyết tật nặng có giấy xác nhận khuyết tật của cơ quan có thẩm quyền; người lao động ưu tú được công nhận danh hiệu thợ giỏi, nghệ nhân hoặc danh hiệu về lao động sáng tạo; một số nhân viên y tế đủ thời gian công tác và thi vào ngành y, dược cũng thuộc UT2.
Người thuộc nhiều diện ưu tiên theo đối tượng chỉ được hưởng một diện ưu tiên cao nhất.
Nguyên tắc chung là thí sinh học liên tục và tốt nghiệp trung học tại khu vực nào thì hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Nếu chuyển trường, thời gian học ở khu vực nào lâu hơn được tính theo khu vực đó.
Một số trường hợp được hưởng ưu tiên theo hộ khẩu thường trú, như học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường hoặc lớp dự bị, lớp tạo nguồn; học sinh có hộ khẩu thường trú trên 18 tháng tại một số địa bàn đặc biệt khó khăn và học THPT hoặc trung cấp tại địa điểm thuộc huyện, thị xã có ít nhất một xã thuộc diện này.
Các khu vực gồm KV1, KV2-NT, KV2 và KV3. KV1 bao gồm các xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới; KV2-NT là các địa phương không thuộc KV1, KV2, KV3; KV2 gồm các phường thuộc tỉnh và xã của thành phố trực thuộc Trung ương (trừ xã thuộc KV1); KV3 gồm các phường của thành phố trực thuộc Trung ương.
Cơ sở đào tạo phải công khai thông tin tuyển sinh
Quy chế yêu cầu các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công khai thông tin tuyển sinh và chịu trách nhiệm về thông tin đã công bố.
Các thông tin phải công khai gồm chương trình, hình thức và thời gian đào tạo; văn bằng, chứng chỉ; địa điểm học; học phí và các khoản thu; chính sách học bổng, miễn giảm, hỗ trợ học phí; điều kiện học tập, ký túc xá và các chính sách hỗ trợ khác.
Cơ sở cũng phải công bố kế hoạch, phạm vi, các đợt tuyển sinh; thời gian nhận hồ sơ; số lượng, đối tượng, điều kiện, chuẩn đầu vào và hình thức tuyển sinh của từng nhóm ngành, nghề, trình độ đào tạo.
Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tự chủ xác định số lượng tuyển sinh hằng năm trên cơ sở năng lực, điều kiện bảo đảm chất lượng, nhu cầu thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Quy chế tuyển sinh mới vì vậy tạo khung quy định thống nhất cho tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp, đồng thời đặt yêu cầu về công khai thông tin và trách nhiệm của cơ sở đào tạo trong tuyển sinh./.
Nguồn: treemvietnam.net.vn


















