
Nằm bên bờ hồ Tây thơ mộng, chùa Kim Liên Hà Nội là một trong 10 di tích kiến trúc tôn giáo độc đáo nhất Việt Nam (Ảnh P.V).
Có những mái chùa soi bóng xuống Hồ Tây, những ngôi đình lưu giữ ký ức làng quê, những đền, phủ mang trong mình câu chuyện về lịch sử Thăng Long và những lớp văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Tại Tây Hồ, di sản vật thể hiện diện như một phần tự nhiên của đời sống đô thị. Bảo tồn những giá trị ấy không chỉ là giữ lại dấu tích của quá khứ, mà còn mở ra một hướng đi giàu tiềm năng: biến di sản thành nguồn cảm hứng sáng tạo, tạo sản phẩm văn hóa, du lịch và từng bước hình thành những giá trị mới cho công nghiệp văn hóa Thủ đô.
Những “viên ngọc” bên Hồ Tây
Tây Hồ có một lợi thế mà không phải nơi nào cũng có: di sản hiện diện ngay giữa đời sống đô thị. Chỉ cần bước qua một con phố, người ta có thể bắt gặp một mái chùa cổ; đi thêm một đoạn có thể gặp một ngôi đình, một đền; bên kia là mặt nước Hồ Tây với những lớp ký ức nối dài từ Thăng Long xưa đến Hà Nội hôm nay, những địa danh đã đi vào lịch sử, thi ca của Thăng Long – Hà Nội.
Phường Tây Hồ hôm nay sở hữu một không gian di sản đặc biệt phong phú, trong đó có những di tích được xếp hạng cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt như chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên, đền Đồng Cổ, đình An Thái, phủ Tây Hồ, cùng nhiều di tích khác.
Nhắc đến Tây Hồ, không thể không nhắc tới chùa Kim Liên – một công trình kiến trúc Phật giáo có giá trị đặc biệt. Ngôi chùa nằm bên hồ, mang vẻ đẹp cổ kính, thanh tĩnh, được xem là một trong những công trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu của Hà Nội. Những lớp kiến trúc, hoa văn, chạm khắc nơi đây không chỉ phản ánh trình độ nghệ thuật của cha ông mà còn kể câu chuyện về một vùng đất từng gắn với không gian cung điện của các triều đại xưa.
Cũng bên Hồ Tây là chùa Thiên Niên, ngôi chùa gắn với vùng Trích Sài; chùa Vạn Niên, chùa Quảng An, chùa Quảng Bá. Mỗi di tích mang một diện mạo riêng nhưng cùng góp phần tạo nên “bản đồ ký ức” của vùng Hồ Tây.
Nếu những ngôi chùa mang đến vẻ trầm mặc, thì đình, đền lại lưu giữ rõ nét hơn ký ức cộng đồng làng xã. Đình Quảng Bá, đình An Thái, đình Quán La, đền Đồng Cổ, đền Thụy Khuê, đền Vệ Quốc… là những địa chỉ văn hóa gắn với tín ngưỡng, phong tục và đời sống tinh thần của cư dân qua nhiều thế hệ.
Đặc biệt, đền Đồng Cổ là một di tích có bề dày lịch sử, gắn với Hội thề truyền thống diễn ra vào ngày 4/4 âm lịch. Những nghi lễ được cộng đồng gìn giữ qua thời gian khiến di tích không chỉ tồn tại dưới dạng một công trình kiến trúc mà còn tiếp tục hiện diện trong đời sống văn hóa đương đại.
Phủ Tây Hồ cũng là một địa chỉ đặc biệt. Nằm bên Hồ Tây, Phủ Tây Hồ gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt – di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh. Không gian kiến trúc, cảnh quan cùng đời sống tín ngưỡng cộng đồng tạo nên sức hút riêng, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm đến văn hóa tâm linh được nhiều người biết đến.
Những di tích ấy, nhìn riêng lẻ, có thể chỉ là một ngôi chùa, một ngôi đình hay một đền, phủ. Nhưng đặt trong tổng thể Hồ Tây, chúng tạo thành một hệ thống di sản liên kết chặt chẽ. Chính sự liên kết ấy làm nên giá trị đặc biệt của Tây Hồ.
Từ bảo tồn di tích đến “đánh thức” nguồn lực sáng tạo
Bảo tồn di sản vật thể trước hết là bảo vệ những giá trị nguyên gốc của di tích. Nhưng trong đời sống hiện đại, bảo tồn không có nghĩa là đặt di sản ra ngoài dòng chảy phát triển. Một di tích chỉ thực sự có sức sống lâu dài khi được cộng đồng quan tâm, khi thế hệ trẻ hiểu được giá trị của nó và khi xã hội có những cách thức phù hợp để đưa di sản đến gần công chúng. Đây cũng chính là điểm gặp gỡ giữa bảo tồn di sản và phát triển công nghiệp văn hóa.
Với lợi thế đặc biệt về di sản, cảnh quan và dịch vụ, Tây Hồ có điều kiện để phát triển những sản phẩm văn hóa dựa trên chính những giá trị đang hiện hữu. Một ngôi chùa cổ có thể trở thành điểm dừng trong hành trình khám phá kiến trúc và lịch sử Hà Nội. Một đình làng có thể kể câu chuyện về quá trình hình thành cộng đồng cư dân ven Hồ Tây. Một di tích lịch sử có thể trở thành chất liệu cho những sản phẩm xuất bản, nhiếp ảnh, điện ảnh, mỹ thuật, thiết kế hay nội dung số. Những câu chuyện tưởng như đã quen thuộc nếu được kể bằng ngôn ngữ mới có thể trở nên hấp dẫn với công chúng đương đại.

Phủ Tây Hồ gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt – di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh, thu hút nhiều du khách thập phương tới chiêm bái (Ảnh: P.V).
Hình ảnh mái chùa cổ bên mặt nước, cổng đình, cây đa, giếng làng, những hoa văn trên kiến trúc gỗ, những sắc phong, bia đá, tượng thờ… đều có thể trở thành chất liệu sáng tạo. Không gian Hồ Tây, với sen, trà sen, cảnh quan và những câu chuyện lịch sử, càng mở rộng thêm khả năng xây dựng các sản phẩm văn hóa đặc trưng.
Theo Chủ tịch UBND phường Tây Hồ Nguyễn Thanh Tịnh, điều quan trọng là sự sáng tạo ấy phải bắt đầu từ nghiên cứu nghiêm túc và tôn trọng di sản. Không thể biến di tích thành một không gian kinh doanh đơn thuần. Không thể vì mục tiêu thu hút khách mà làm biến dạng kiến trúc, phá vỡ cảnh quan hoặc thương mại hóa những giá trị tín ngưỡng. Công nghiệp văn hóa dựa trên di sản phải là quá trình tạo thêm giá trị nhưng không làm mất đi giá trị gốc.
Đó cũng là lý do công tác quản lý, tu bổ và phát huy giá trị di tích cần được đặt trong một tổng thể thống nhất. Hệ thống di tích trên Tây Hồ gồm nhiều công trình đã được xếp hạng ở các cấp khác nhau, trong đó có những di tích có giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật.
Một hướng đi có nhiều triển vọng là đẩy mạnh số hóa di sản. Những hồ sơ di tích, hình ảnh, tư liệu, bản đồ, câu chuyện về danh nhân, lịch sử hình thành các làng ven Hồ Tây có thể được số hóa và kết nối trên nền tảng chung. Mỗi di tích có thể được giới thiệu bằng mã QR, bản đồ số, hình ảnh trực quan và nội dung thuyết minh phù hợp với từng nhóm công chúng.
Khi một du khách đứng trước một cổng chùa cổ và có thể tìm hiểu ngay lịch sử công trình; khi một học sinh có thể sử dụng điện thoại để khám phá câu chuyện của một ngôi đình; khi một người nước ngoài có thể tiếp cận thông tin bằng ngôn ngữ của mình, di sản sẽ trở nên gần gũi hơn rất nhiều.
Công nghệ khi ấy không thay thế di sản mà trở thành công cụ giúp di sản được nhìn thấy rõ hơn. Kết nối những điểm di sản thành sản phẩm văn hóa Một trong những tiềm năng lớn của Tây Hồ là khả năng hình thành những tuyến trải nghiệm liên kết nhiều loại hình di sản.
Một buổi sáng, du khách có thể bắt đầu hành trình bên Hồ Tây, ghé chùa Trấn Quốc, tiếp tục khám phá những không gian văn hóa quanh hồ, tìm hiểu chùa Kim Liên, chùa Thiên Niên, chùa Vạn Niên; một hành trình khác có thể kết nối Phủ Tây Hồ với các đình, đền và không gian tín ngưỡng truyền thống. Những tuyến trải nghiệm ấy nếu được thiết kế hợp lý sẽ giúp du khách không chỉ “đi qua” di tích mà có cơ hội hiểu về lịch sử và văn hóa của vùng đất.
Tây Hồ đang phát triển nhanh với hệ thống hạ tầng, dịch vụ, du lịch ngày càng được quan tâm. Trong quá trình ấy, bài toán đặt ra không chỉ là làm thế nào để đô thị hiện đại hơn, mà còn là làm thế nào để vẻ đẹp lịch sử không bị lấn át. Một đô thị có chiều sâu không phải là đô thị chỉ có những công trình mới. Đó là nơi những dấu tích cũ được trân trọng và hòa nhập hài hòa với cuộc sống hiện đại.
Với Tây Hồ, mỗi mái chùa, cổng đình, đền, phủ hay không gian làng cổ đều có thể trở thành một “điểm neo” văn hóa trong đô thị. Những điểm neo ấy giúp cư dân trân trọng, yêu mến nơi mình đang sống, giúp du khách hiểu hơn về các di sản Tây Hồ nói riêng và mảnh đất Kinh kỳ nghìn năm văn hiến.
Thùy Dương
Nguồn: baophapluat.vn

















