
Tiềm năng điện gió ngoài khơi Việt Nam rất lớn. (Ảnh minh họa: VGP)
Việt Nam sở hữu tiềm năng lớn để phát triển điện gió ngoài khơi nhưng giữa tiềm năng hàng trăm GW và những dự án thực sự phát điện vẫn là một khoảng cách dài, đòi hỏi vốn lớn, hạ tầng đồng bộ và hành lang pháp lý đủ rõ ràng. Những chuyển động mới về chính sách đang mở ra cơ hội để hiện thực hóa tiềm năng điện gió ngoài khơi…
“Mỏ gió” ngoài khơi
Theo TS Dư Văn Toán – Viện Khoa học Môi trường, Biển và Hải đảo, Việt Nam được ưu đãi với tiềm năng điện gió ngoài khơi (ĐGNK) rất lớn. Đánh giá sơ bộ cho thấy tổng công suất kỹ thuật có thể đạt xấp xỉ 600GW. Trong đó, khoảng 261GW có thể phát triển bằng công nghệ nền móng cố định tại những vùng biển có độ sâu dưới 50m. Khoảng 338GW còn lại nằm ở những khu vực biển sâu hơn, có thể phát triển bằng công nghệ nền móng nổi.
Đặc biệt, tiềm năng không chỉ tập trung tại một khu vực mà trải dài dọc nhiều vùng biển, tạo điều kiện để hình thành các trung tâm ĐGNK với quy mô lớn trong dài hạn. Trong đó, Bình Thuận là một trong những địa phương có quy mô đề xuất lớn nhất, với 10 dự án có tổng công suất 30.200MW. Ninh Thuận có 27 dự án với tổng công suất gần 29.802MW. Ở phía Bắc, Hải Phòng cũng đề xuất 5 dự án với tổng công suất hơn 16.000MW.
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cũng đã xác định ĐGNK là một hướng phát triển quan trọng trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam. Tuy nhiên, ĐGNK còn có một đặc điểm khiến giá trị của nó vượt ra ngoài câu chuyện bổ sung công suất cho hệ thống điện.
Theo TS, chuyên gia năng lượng Nguyễn Huy Hoạch, lợi ích lớn hơn nằm ở chuỗi công nghiệp mà loại hình năng lượng này có thể kéo theo. Bởi một dự án ĐGNK không chỉ cần turbine. Đằng sau những turbine đặt giữa biển là cả một hệ sinh thái công nghiệp: khảo sát biển, thiết kế công trình, chế tạo kết cấu thép, đóng tàu, dịch vụ hàng hải, cảng biển, vận chuyển, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, công nghệ số, dự báo thời tiết, bảo hiểm và tài chính.
Trong khi đó, nền công nghiệp dầu khí trong nhiều năm qua đã hình thành năng lực nhất định về khảo sát biển, thi công công trình ngoài khơi, cơ khí chế tạo và logistics. Hệ thống cảng biển, đóng tàu và các doanh nghiệp công nghiệp cũng tạo ra những nền tảng ban đầu để tham gia chuỗi giá trị.
Ở nhiều quốc gia, ĐGNK không chỉ được nhìn nhận đơn thuần là một nguồn phát điện mà trở thành một động lực mới cho phát triển kinh tế biển. Đây cũng có thể là cơ hội lớn của Việt Nam để đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu chiến lược, như bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước và khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển.
Khi tiềm năng chuyển động…
Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (REE) là doanh nghiệp đầu tiên được phê duyệt quyền khảo sát một dự án ĐGNK tại khu vực Nam Bộ. Doanh nghiệp này đang nghiên cứu các khu vực có tiềm năng phát triển, trong đó có dự án quy mô 500MW tại Vĩnh Long. Nhưng ĐGNK là cuộc chơi có quy mô vốn hoàn toàn khác với nhiều loại hình năng lượng tái tạo khác. Theo tính toán được REE công bố, suất đầu tư có thể lên tới khoảng 3 tỷ USD cho mỗi GW công suất. Trong đó, riêng chi phí chuẩn bị đầu tư cũng rất lớn. Một chương trình khảo sát ngoài khơi có thể tiêu tốn hàng chục triệu USD cho các hoạt động đo gió, khảo sát hải văn, khảo sát địa chất đáy biển, nghiên cứu tuyến cáp và đánh giá môi trường hàng hải.
Mới đây, TP Hồ Chí Minh cũng đã nghe báo cáo về đề xuất đầu tư dự án Nhà máy ĐGNK Cần Giờ với công suất 6.000MW do liên danh 2 nhà đầu tư đề xuất và kiến nghị bổ sung dự án vào danh mục Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Tuy nhiên, đây chỉ là số ít dự án được phê duyệt hoặc xem xét.
Theo TS Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay không còn nằm ở quy hoạch hay chủ trương phát triển. Vấn đề nổi lên là năng lực tổ chức thực hiện. Một dự án ĐGNK phải trải qua rất nhiều bước: khảo sát biển, lập báo cáo tiền khả thi, lựa chọn nhà đầu tư, lập báo cáo khả thi, thu xếp vốn, đầu tư hệ thống truyền tải và cuối cùng là xây dựng, vận hành.
Trong chuỗi này có sự tham gia của nhiều Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Nếu mỗi cơ quan chỉ xử lý phần việc của mình theo một thủ tục riêng lẻ, có thể xảy ra tình trạng tất cả các thủ tục đều được thực hiện nhưng dự án vẫn không thể triển khai. Đó là đặc thù của ĐGNK. Bởi đây không phải là một nhà máy được xây dựng trên một khu đất xác định. Dự án liên quan đồng thời đến không gian biển, năng lượng, hàng hải, môi trường, quốc phòng, hạ tầng cảng và hệ thống truyền tải điện.
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 272/2026/NĐ-CP về phát triển ĐGNK, tạo lập hành lang pháp lý cho hoạt động khảo sát, chuẩn bị đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư. Theo các chuyên gia, đây là một bước chuyển đáng chú ý sau nhiều năm thị trường chờ đợi một cơ chế cụ thể hơn.
Nghị định đã quy định rõ hơn về điều kiện, trình tự, thủ tục khảo sát khu vực biển cũng như cơ chế lựa chọn nhà đầu tư. Cách tiếp cận cũng bắt đầu chuyển từ xử lý các thủ tục rời rạc sang xây dựng sự phối hợp xuyên suốt từ khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư, giao khu vực biển đến triển khai và vận hành dự án. Đây mới là bước mở đầu. Một nghị định mới chỉ thực sự có giá trị khi những quy định trong đó có thể vận hành được trong thực tế. Các vấn đề về giá điện, hợp đồng mua bán điện, đầu tư lưới truyền tải, phân bổ rủi ro và cơ chế phối hợp vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.
Đáng chú ý, theo TS Nguyễn Quốc Thập, nếu chờ đến khi mọi quy định đều hoàn chỉnh mới triển khai dự án, Việt Nam có thể mất thêm nhiều năm mà vẫn chưa có đủ kinh nghiệm thực tế để hoàn thiện chính sách. Do đó, một hướng đi cần tính đến là lựa chọn một số dự án thí điểm với cơ chế kiểm soát phù hợp, vừa triển khai, vừa đánh giá để tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý.
Cần phát triển đồng bộ từ chính sách đến hạ tầng
Theo ông Ben Backwell – Giám đốc điều hành Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu, Việt Nam có nền tảng công nghiệp, kỹ năng nguồn nhân lực và nguồn tài nguyên kỹ thuật rất lớn. Tuy nhiên, “chìa khóa” để chuyển hóa tiềm năng thành dự án nằm ở một môi trường đầu tư thuận lợi, trong đó các quy trình và thủ tục được chuẩn hóa, minh bạch.

Cần phát triển đồng bộ hạ tầng năng lượng để phát triển điện gió ngoài khơi. (Ảnh minh họa: NPT)
Đối với một ngành có suất đầu tư lên tới hàng tỷ USD, tính ổn định của chính sách đặc biệt quan trọng. Bởi các tổ chức tài chính quốc tế không chỉ nhìn vào tiềm năng gió. Họ sẽ nhìn vào hợp đồng mua bán điện, khả năng dự báo dòng tiền, cơ chế chia sẻ rủi ro, trách nhiệm của các bên và mức độ ổn định của chính sách. Do đó, cơ chế giá điện và PPA (hợp đồng mua bán điện) có khả năng đạt “độ tin cậy tài chính” sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để dự án tiến tới quyết định đầu tư cuối cùng và huy động được nguồn vốn quốc tế.
Cùng với đó là câu chuyện hạ tầng. ĐGNK không thể phát triển nếu chỉ đầu tư turbine ngoài biển mà không có hệ thống truyền tải để đưa điện vào đất liền. Các dự án nguồn điện cần được phát triển song song với hạ tầng truyền tải. Cảng chuyên dụng, trung tâm hậu cần kỹ thuật, cơ sở bảo dưỡng và logistics cũng phải được coi là một phần của “bài toán” đầu tư, chứ không phải những công trình phụ trợ xuất hiện sau.
Chuyên gia năng lượng Nguyễn Huy Hoạch cũng cho rằng, muốn hiện thực hóa mục tiêu ĐGNK, cần đồng thời giải quyết ít nhất bốn “bài toán”: hoàn thiện cơ chế thực thi Nghị định 272, xây dựng môi trường đầu tư đủ ổn định để huy động vốn quốc tế, phát triển đồng bộ lưới điện và hạ tầng biển, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Trong đó, điều quan trọng hơn cả là một cơ chế điều phối thống nhất. “Do ĐGNK liên quan đồng thời đến nhiều Bộ, ngành và địa phương ven biển, cần nghiên cứu cơ chế điều phối thống nhất ở cấp Chính phủ nhằm theo dõi tiến độ, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh và bảo đảm sự đồng bộ giữa phát triển nguồn điện, hạ tầng truyền tải, sử dụng không gian biển và phát triển kinh tế biển. Đây là kinh nghiệm được nhiều quốc gia áp dụng trong giai đoạn đầu phát triển ĐGNK” – TS Nguyễn Huy Hoạch nói.
Theo các chuyên gia của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, một trong những điểm mới quan trọng của Nghị định 272/2026/NĐ-CP, trong đó có nội dung về phát triển ĐGNK là quy định rõ điều kiện, trình tự và thủ tục khảo sát khu vực biển, cũng như cơ chế lựa chọn nhà đầu tư. Nếu trước đây hoạt động khảo sát còn thiếu cơ sở pháp lý thống nhất, thì nay Nghị định đã quy định cụ thể hồ sơ, quy trình và trách nhiệm của từng cơ quan có liên quan. Điều này góp phần hạn chế tình trạng nhiều doanh nghiệp cùng đề xuất khảo sát trên một khu vực, hoặc kéo dài quá trình chuẩn bị đầu tư do thiếu đầu mối xử lý. Đồng thời, việc xác lập rõ quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư ngay từ giai đoạn khảo sát cũng góp phần giảm đáng kể rủi ro pháp lý – một trong những tiêu chí được các tổ chức tài chính quốc tế đặc biệt coi trọng khi xem xét tài trợ các dự án điện gió ngoài khơi có quy mô đầu tư rất lớn.
Đồng thời chuyển tư duy từ “quản lý theo thủ tục”, sang “quản lý theo vòng đời dự án”. Thay vì các cơ quan quản lý xử lý từng thủ tục độc lập như trước đây, Nghị định đã bước đầu hình thành cơ chế phối hợp xuyên suốt – từ khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư, giao khu vực biển, đến triển khai và vận hành dự án. Đây là thay đổi quan trọng, bởi ĐGNK là loại hình đầu tư có chu kỳ rất dài và liên quan đồng thời đến nhiều lĩnh vực như năng lượng, tài nguyên biển, hàng hải, quốc phòng, môi trường và quy hoạch không gian biển.
Hồng tươi
Nguồn: baophapluat.vn
















