Bài viết này trong chuyên đề Dinh dưỡng học đường


PV: Thưa luật sư, dưới góc độ pháp lý, việc được tiếp cận chế độ dinh dưỡng đầy đủ, an toàn và phù hợp có thể được xem là một nội dung thuộc quyền được chăm sóc sức khỏe và phát triển toàn diện của trẻ em hay không?
Luật sư Phạm Thị Bích Hảo: Dưới góc độ pháp lý, dinh dưỡng không đơn thuần là nhu cầu thiết yếu trong quá trình chăm sóc sức khỏe mà còn gắn liền với quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển toàn diện của trẻ em.
Luật Trẻ em năm 2016 quy định tại Điều 14, trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận và sử dụng các dịch vụ phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh. Trong khi đó, Điều 15 khẳng định quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện. Những quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm các điều kiện chăm sóc sức khỏe, trong đó có khả năng tiếp cận chế độ dinh dưỡng đầy đủ, an toàn và phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

Đáng chú ý, trách nhiệm bảo đảm dinh dưỡng cho trẻ em được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 98 Luật Trẻ em năm 2016. Theo đó, cha mẹ và người chăm sóc trẻ có trách nhiệm bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ theo từng độ tuổi. Quy định này cho thấy dinh dưỡng không chỉ là vấn đề phụ thuộc vào điều kiện sinh hoạt của mỗi gia đình mà còn là một nội dung cụ thể trong trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
Tuy nhiên, để quyền được tiếp cận dinh dưỡng thực sự đi vào đời sống, điều quan trọng không chỉ nằm ở lượng thực phẩm trẻ được cung cấp mà còn ở chất lượng và mức độ phù hợp của khẩu phần ăn. Một chế độ dinh dưỡng cần đáp ứng nhu cầu về năng lượng và dưỡng chất, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng thời phù hợp với độ tuổi, thể trạng và tốc độ phát triển của từng trẻ. Những yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với sức khỏe thể chất, khả năng học tập và sự phát triển toàn diện trong những năm đầu đời cũng như các giai đoạn tiếp theo.

PV: Theo luật sư, hành lang pháp lý hiện hành đã đủ để bảo đảm học sinh được tiếp cận những bữa ăn an toàn, đủ chất và phù hợp với lứa tuổi hay vẫn còn những khoảng trống cần khắc phục?
Luật sư Phạm Thị Bích Hảo: Theo tôi, pháp luật hiện hành đã bước đầu hình thành cơ sở để bảo vệ quyền được ăn uống an toàn, bảo đảm dinh dưỡng của học sinh. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi, kiểm tra, giám sát và xác định trách nhiệm của từng chủ thể trong quá trình tổ chức bữa ăn học đường. Quy định pháp luật chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được thực hiện nghiêm túc và có cơ chế kiểm soát đủ chặt chẽ trong thực tế.
Luật Trẻ em năm 2016, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và Luật Giáo dục năm 2019, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ sức khỏe, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, đồng thời đặt ra những yêu cầu liên quan đến an toàn thực phẩm trong môi trường giáo dục.
Bên cạnh đó, ngày 14/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg về tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục; tiếp đó, Công điện số 64/CĐ-TTg ngày 13/9/2026 yêu cầu tăng cường bảo đảm an toàn, chất lượng bữa ăn nội trú, bán trú trong các cơ sở giáo dục.
Các văn bản này nhấn mạnh việc kiểm soát nguồn gốc thực phẩm, nâng cao trách nhiệm của nhà trường và cơ quan quản lý, tăng cường kiểm tra, giám sát, đồng thời chú trọng chất lượng và định lượng dinh dưỡng trong bữa ăn của học sinh.
Những yêu cầu trên cho thấy bảo đảm bữa ăn học đường không thể là trách nhiệm riêng của nhà trường hay đơn vị cung cấp suất ăn, mà cần sự phối hợp và giám sát chặt chẽ của các cơ quan có thẩm quyền.

Một vấn đề khác cần được quan tâm là phải kiểm soát đồng thời cả an toàn thực phẩm và chất lượng dinh dưỡng. Theo tôi, một bữa ăn không có dấu hiệu mất an toàn chưa đồng nghĩa với việc đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển của học sinh.
Điều 28, Điều 29 và Điều 30 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định các yêu cầu đối với bếp ăn tập thể, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và hoạt động chế biến, bảo quản thực phẩm. Trên cơ sở đó, cần tiếp tục cụ thể hóa các tiêu chí dinh dưỡng theo độ tuổi, bảo đảm dễ áp dụng, thuận lợi cho việc kiểm tra và đánh giá chất lượng bữa ăn trong thực tế.
Điều đó đòi hỏi pháp luật phải được thực thi đồng bộ, cơ chế giám sát phải đủ hiệu quả và trách nhiệm của từng chủ thể phải được xác định rõ ràng. Khi đó, quyền được ăn uống an toàn, đủ chất và phù hợp với lứa tuổi mới có thể được bảo đảm thực chất, đáp ứng lợi ích tốt nhất của trẻ em.

PV: Trên thực tế, điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và khả năng tổ chức bữa ăn giữa các địa phương, các trường học còn khác nhau. Dưới góc độ pháp luật, cần có những cơ chế nào để trẻ em ở vùng khó khăn, trẻ em thuộc hộ nghèo hoặc có hoàn cảnh đặc biệt không bị hạn chế cơ hội tiếp cận dinh dưỡng học đường?
Luật sư Phạm Thị Bích Hảo: Để trẻ em ở vùng khó khăn, trẻ em thuộc hộ nghèo hoặc có hoàn cảnh đặc biệt không bị hạn chế cơ hội tiếp cận dinh dưỡng học đường, cần xây dựng chính sách bảo đảm quyền trẻ em gắn với chính sách an sinh xã hội, đồng thời tính đến điều kiện kinh tế và khả năng tổ chức thực hiện của từng địa phương. Việc bảo đảm dinh dưỡng không nên phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng đóng góp của gia đình, bởi mọi trẻ em đều có quyền được chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng và phát triển toàn diện.
Về căn cứ pháp lý, Điều 5 Luật Trẻ em năm 2016 quy định các nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em, trong đó nhấn mạnh việc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và không phân biệt đối xử. Theo tôi, những nguyên tắc này cần được cụ thể hóa bằng các chính sách hỗ trợ thiết thực, bảo đảm trẻ em có hoàn cảnh khác nhau vẫn có cơ hội tiếp cận các điều kiện dinh dưỡng cần thiết.

Thực tế, pháp luật đã có những chính sách hỗ trợ đối với trẻ em và học sinh thuộc các nhóm đối tượng nhất định. Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách đối với trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển, hải đảo và tại các cơ sở giáo dục có đối tượng thụ hưởng.
Theo đó, các đối tượng đáp ứng điều kiện theo quy định được hưởng những chính sách hỗ trợ tương ứng, trong đó có hỗ trợ tiền ăn trưa đối với một số nhóm trẻ em và hỗ trợ tiền ăn, tiền bán trú, học bổng, gạo đối với học sinh bán trú thuộc diện thụ hưởng.
Tôi cho rằng, đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chính sách dinh dưỡng học đường theo hướng ưu tiên những địa bàn và nhóm trẻ em có nhiều khó khăn, đồng thời bảo đảm nguồn lực hỗ trợ được phân bổ đúng đối tượng và đáp ứng nhu cầu thực tế.
Đối với việc xây dựng bộ tiêu chuẩn dinh dưỡng học đường áp dụng trên phạm vi toàn quốc, cần thực hiện theo nguyên tắc thống nhất về chuẩn tối thiểu nhưng linh hoạt trong tổ chức thực hiện. Bộ tiêu chuẩn cần xác định rõ yêu cầu về năng lượng, cơ cấu các chất dinh dưỡng và khẩu phần ăn phù hợp với từng độ tuổi, cấp học và số bữa ăn tại trường.
Đồng thời, các tiêu chí phải tính đến yêu cầu an toàn thực phẩm, kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu và nhu cầu ăn uống đặc thù của học sinh. Việc xây dựng tiêu chuẩn cần dựa trên cơ sở khoa học, nhưng cũng phải bảo đảm khả năng áp dụng trong điều kiện thực tế của hệ thống giáo dục ở các địa phương.

Bên cạnh đó, các hướng dẫn chuyên môn về dinh dưỡng bữa ăn học đường cần được đối chiếu để xác định những chỉ tiêu cụ thể, bảo đảm tính khoa học và phù hợp với nhu cầu phát triển của học sinh.
Một bộ tiêu chuẩn dù được xây dựng đầy đủ đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả nếu không đi kèm cơ chế bảo đảm nguồn lực. Nhà nước cần nghiên cứu định mức chi phí phù hợp với từng vùng, miền, có chính sách ưu tiên hỗ trợ các trường ở miền núi, hải đảo và địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn.
Cuối cùng, cần xác định rõ trách nhiệm của nhà trường, đơn vị cung cấp suất ăn và cơ quan quản lý trong việc tổ chức, kiểm tra, giám sát chất lượng bữa ăn. Mức hỗ trợ cũng cần được tính toán trên cơ sở giá thực phẩm, điều kiện vận chuyển, khả năng cung ứng nguyên liệu và chi phí tổ chức bữa ăn tại từng địa bàn, tránh tình trạng cùng một định mức nhưng nơi thực hiện được, nơi lại gặp khó khăn.
Việc triển khai bộ tiêu chuẩn nên được thực hiện theo lộ trình, có thể thí điểm tại những địa bàn có điều kiện kinh tế, địa lý và khả năng tổ chức khác nhau trước khi áp dụng rộng rãi. Quá trình thí điểm sẽ giúp cơ quan quản lý đánh giá tính khả thi, xác định những khó khăn về tài chính, nhân lực và nguồn cung thực phẩm để kịp thời điều chỉnh.

PV: Theo luật sư, trách nhiệm bảo đảm dinh dưỡng học đường cần được phân công và phối hợp ra sao giữa cơ quan quản lý giáo dục, ngành y tế, chính quyền địa phương, nhà trường, gia đình và doanh nghiệp?
Luật sư Phạm Thị Bích Hảo: Để bảo đảm an toàn thực phẩm và chất lượng dinh dưỡng trong bữa ăn học đường, cần thiết lập cơ chế phối hợp xuyên suốt từ xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, giám sát.
Đây không thể là trách nhiệm riêng của nhà trường hay doanh nghiệp cung cấp suất ăn, bởi mỗi chủ thể đều có vai trò, chức năng và nghĩa vụ khác nhau trong việc bảo vệ sức khỏe, bảo đảm sự phát triển của học sinh. Việc xác định rõ trách nhiệm của từng bên là điều kiện quan trọng để hạn chế tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm khi xảy ra sai phạm.
Về cơ sở pháp lý, Điều 61 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, trong đó Chính phủ thống nhất quản lý, Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, còn UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại địa phương. Cùng với các quy định của Luật Trẻ em năm 2016, đây là cơ sở để xác định trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc bảo vệ sức khỏe và quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em. Theo tôi, cần đặc biệt lưu ý rằng trách nhiệm bảo đảm bữa ăn học đường là trách nhiệm chung, nhưng không đồng nghĩa với việc trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể có thể thay thế cho nhau.

Trong cơ chế phối hợp đó, cơ quan quản lý giáo dục cần phát huy vai trò chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục tổ chức bữa ăn học đường, xây dựng quy trình quản lý và kiểm tra việc thực hiện, đồng thời phối hợp với ngành y tế trong các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng và an toàn thực phẩm.
Ngành y tế giữ vai trò chuyên môn trong hướng dẫn các yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm, dinh dưỡng phù hợp với độ tuổi, kiểm soát nguy cơ và phối hợp xử lý khi xảy ra sự cố. Quyết định số 3958/QĐ-BYT ngày 25/12/2025 của Bộ Y tế về hướng dẫn dinh dưỡng đối với bữa ăn học đường cũng là tài liệu chuyên môn cần được vận dụng khi xây dựng khẩu phần phù hợp với nhu cầu năng lượng và đặc điểm phát triển của học sinh.
Đối với chính quyền địa phương, cần phân công rõ nhiệm vụ giữa các cơ quan chuyên môn, bảo đảm nguồn lực thực hiện và duy trì hoạt động kiểm tra đối với cả nhà trường lẫn đơn vị cung cấp suất ăn. Khi phát hiện vi phạm, các cơ quan có thẩm quyền cần xử lý kịp thời, đồng thời làm rõ trách nhiệm của những tổ chức, cá nhân liên quan.
Bên cạnh trách nhiệm của cơ quan quản lý, nhà trường phải thực sự chủ động trong việc kiểm soát chất lượng bữa ăn, còn doanh nghiệp cung cấp suất ăn phải chịu trách nhiệm đối với chất lượng, nguồn gốc nguyên liệu và việc tuân thủ các yêu cầu an toàn thực phẩm theo quy định.
Gia đình cũng cần được tạo điều kiện tham gia giám sát thông qua việc tiếp cận thông tin về thực đơn, nguồn cung thực phẩm và kết quả kiểm tra. Sự tham gia của phụ huynh không nhằm thay thế trách nhiệm của cơ quan chức năng hay nhà trường, mà góp phần tăng tính công khai, minh bạch trong tổ chức bữa ăn học đường.
Xin trân trọng cảm ơn bà vì những chia sẻ!
Từ khoá:
bữa ăndinh dưỡngbữa ăn dinh dưỡngquy định pháp luậtluật sư phạm thị bích hảobữa ăn đủ chấtdinh dưỡng học đường
Bình luận
Nguồn: treemvietnam.net.vn






